<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Viet Thuc</title>
	<atom:link href="http://www.vietthuc.org/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.vietthuc.org</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Tue, 07 Feb 2012 19:02:39 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.1.3</generator>
		<item>
		<title>Sự thật về cái chết của Nhất Linh</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/07/s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt-v%e1%bb%81-cai-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-nh%e1%ba%a5t-linh/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/07/s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt-v%e1%bb%81-cai-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-nh%e1%ba%a5t-linh/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Feb 2012 05:06:54 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyen Tuong Thiet</dc:creator>
				<category><![CDATA[BIÊN KHẢO VĂN HỌC]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35119</guid>
		<description><![CDATA[Sự thật về cái chết
của Nhất Linh 
Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy rõ khuôn mặt cha tôi, nhà văn Nhất Linh, là vào khoảng cuối năm 1950 khi cha tôi từ Hương Cảng ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: x-large; color: #008080;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva;"><img style="float: left; margin-left: 14px; margin-right: 14px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-ZFEB-3-Nhat_Linh.jpg" alt="" width="180" height="251" />Sự thật về cái chết<br />
của Nhất Linh </span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="color: #000000;">Lần đầu tiên tôi được nhìn thấy rõ khuôn mặt cha tôi, nhà văn Nhất Linh, là vào khoảng cuối năm 1950 khi cha tôi từ Hương Cảng trở về Hà Nội. Năm ấy tôi mới mười tuổi</span>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trong thập niên 1940 cha tôi rất bận rộn với những hoạt động chính trị, ông sống nhiều năm bên Trung Hoa. Thời gian này ông chỉ về ghé thăm mẹ con tôi vào những dịp đặc biệt ngắn ngủi, không đủ cho tôi kịp nhận diện khuôn mặt người cha, người mà lâu lâu tôi nghe nhắc đến một cách kính cẩn như thể ông là một nhân vật trong thần thoại hơn là một người có thực ở ngoài đời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Tôi nhớ ngày hôm đó tôi đã ngây người nhìn ông như nhìn một người khách lạ. Trước mắt tôi nhân vật thần thoại ấy hiện hình bằng xương bằng thịt: Nhất Linh dáng dong dỏng quắc thước, khuôn mặt phong sương, có cặp mắt sâu, đôi mày rậm, vầng trán cao, nụ cười cởi mở dưới hàng râu mép và cái nhìn đặc biệt, nhìn thẳng và sâu vào đôi mắt người đối diện nhưng lúc nào cũng nhiễm một vẻ mơ màng xa vời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Kỷ niệm về đêm hôm đầu tiên đoàn tụ ấy còn ghi đậm trong trí nhớ tôi một lời nói của cha tôi. Ðó là lời ông tuyên bố quyết định từ bỏ cuộc đời chính trị.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Trong tập hồi ký Nhất Linh Cha Tôi (Văn Mới xuất bản 2006, trang 13) tôi có viết: “Ðêm hôm đầu tiên đoàn tụ, chúng tôi không ngủ, tất cả thức gần suốt sáng để trò chuyện với ông. Trong căn nhà số 15 Hàng Bè Hà Nội nơi mẹ tôi mở tiệm bán cau khô, vào một đêm mùa Ðông, bố mẹ con chúng tôi chen chúc nằm trên một chiếc giường tây lớn. Tôi còn nhớ rõ bố tôi nói với chúng tôi là ngày hôm sau báo chí sẽ đến gặp ông và ông sẽ tuyên bố quyết định từ bỏ cuộc đời làm chính trị để trở về cuộc đời viết văn.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Sau này đọc bản thảo cuốn tiểu thuyết Xóm Cầu Mới (Bèo Giạt) tôi thấy cha tôi viết những dòng sau này: “Tặng Nguyên, người rất thân yêu đã khuyên tôi trở lại đời văn sĩ và nhờ thế cuốn Xóm Cầu Mới này mới ra đời” (Hương Cảng, trên núi 16 tháng 10 năm 1949, 1g30 trưa). Như vậy là trí nhớ của tôi, cậu bé 10 tuổi, đã không sai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Kể từ ngày đầu tiên đoàn tụ năm 1950 ấy cho đến ngày ông qua đời 7 tháng 7, 1963, tôi là người con đã sống gần gũi với cha tôi nhất trong số tất cả những người con của ông. Lý do là khi cha tôi vào Nam năm 1951, ông kéo tôi đi theo ông, trong khi mẹ và các anh chị tôi ở lại Hà Nội cho đến năm di cư 1954. Và sau đó năm 1955 khi ông quyết định bỏ Sài Gòn lên sống trên Ðà Lạt, tôi lại là người ông mang theo để sống gần ông. Là người con vừa thân cận vừa được tín cẩn, tôi là người vừa biết rõ nhất về ông cụ tôi, lại là người chứng kiến cái chết của ông trong những giờ phút cuối cùng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Là người con hiểu rõ ông cụ tôi, tôi tin rằng khi cha tôi tuyên bố từ bỏ cuộc đời làm chính trị ông đã thành thật với mình. Tuy nhiên thời cuộc đưa đẩy buộc ông phải sống trái với ý muốn của mình. Về cuối đời cha tôi bị liên lụy vì liên quan đến một vụ chính biến, đưa đến cái chết của ông ngày mồng 7 tháng 7 năm 1963.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Cái chết ấy mang mục tiêu chính trị rõ rệt. Ông tự vẫn để “cảnh cáo những người chà đạp lên mọi thứ tự do,” như ông đã viết ra trên giấy trắng mực đen.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Nguyên nhân và động lực đưa đến cái chết của Nhất Linh đã được ông viết ra bằng 71 chữ rất minh bạch và đầy đủ:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Ðời tôi để lịch sử xử, tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng sẽ làm cho nước mất về tay cộng sản. Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: large;"><span style="font-family: verdana, geneva;"><strong>7 tháng 7, 1963<br />
</strong></span><span style="font-family: verdana, geneva;"><strong>Nhất Linh Nguyễn Tường Tam</strong></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Thế nhưng gần đây lại có những người manh tâm viết sách bóp méo sự thật, sửa đổi lịch sử, xuyên tạc cái chết của cha tôi gán ghép cho cha tôi “tự tử vì căn bệnh tâm thần” (Nguyễn Văn Lục), “tự tử để tránh khỏi phải ra tòa đối chất với thuộc hạ” (Lê Nguyên Phu).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Là người con, lại là người con sống gần gũi với ông cụ tôi nhất, tôi biết chắc là gán ghép này hoàn toàn sai với sự thật và vì vậy tôi thấy có bổn phận lên tiếng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Bài viết này sẽ chia làm hai phần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Phần thứ nhất tôi sẽ nói sơ lược về cha tôi, về bối cảnh lịch sử, và nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông, Nhất Linh. Tất cả những gì tôi viết sau đây đều dựa trên những gì mắt thấy tai nghe mà tôi tin rằng đó là sự thật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Tôi sẽ dành phần thứ hai của bài này để phản bác lập luận của hai ông Nguyễn Văn Lục và Lê Nguyên Phu.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: x-large;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva;">***</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; color: #008080; font-size: large;"> </span><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Như đã nói ở trên vào năm 1955 cha tôi quyết định lên Ðà Lạt sống và tôi là người ông chọn để đi cùng với ông. Ông cụ thu xếp cho tôi thi tuyển vào lớp Ðệ Lục trường trung học công lập Quang Trung niên khóa 1955-56. Chúng tôi ở trên lầu 2 nhà hàng Poinsard &amp;Verey số 12 đường Yersin Ðà Lạt. Sau này các anh chị tôi cũng thường lên Ðà Lạt vào những dịp Hè hoặc Tết nhưng không ai ở luôn trên ấy, chỉ trừ chị Thoa là người chị kế của tôi. Những năm đầu tiên trên Ðà Lạt là những năm thanh bình. Cha tôi chơi lan, hòa nhạc tại gia vào cuối tuần. Thỉnh thoảng ba chúng tôi (cha tôi, chị Thoa và tôi) đi pic-nic trên núi Langbian hoặc ở Suối Vàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Lâu lâu bạn bè của cha tôi từ Sài Gòn lên Ðà Lạt ghé thăm cha tôi. Bạn của cha tôi nhiều lắm và đủ loại: bạn thân, bạn văn, bạn đồng chí và cả các chính khách nữa. Tôi còn nhỏ không chú ý đến chuyện người lớn nên không biết cha tôi bàn luận với khách chuyện gì, nhưng tôi đoán thế nào họ chẳng bàn chuyện thời sự và chính trị. Phải đến rất nhiều năm sau này, sau khi thân phụ tôi mất, tôi có dịp gặp lại một trong những vị khách đó là anh Lê Hưng, một đảng viên VNQDÐ. Anh Lê Hưng nói với tôi là cha tôi tán thành chính sách của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm trong việc dẹp loạn Bình Xuyên. Cha tôi nói: “Việc dẹp loạn Bình Xuyên là đúng, nhưng coi chừng, nó có thể mở đầu dẫn đến độc tài.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Vào năm đó (1955) chính phủ của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa phát động rầm rộ phong trào tố cộng. Thị xã Ðà Lạt tràn đầy băng rôn biểu ngữ chống cộng sản. Trong các dịp lễ tết thế nào cũng có màn kịch tố cộng với những anh hề “cán ngố” áo đen nón cối nhẩy vũ điệu tập thể “son mì son mì son đố mì.” Nhưng song song với phong trào tố cộng một phong trào khác cũng rầm rộ không kém. Ðó là phong trào “suy tôn Ngô Tổng Thống.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Những bản nhạc suy tôn được phát đi liên tục trên đài phát thanh. Loa phóng thanh đặt ở đầu chợ Ðà Lạt suốt ngày rót vào tai khách đi đường những bản nhạc suy tôn ấy, đến nỗi nó nhập vào tôi, cậu bé 15 tuổi. Một bữa đi học về tôi nhẩy cầu thang miệng hát oang oang: “Bao nhiêu năm từng lê gót nơi quê người&#8230;” &#8230; “Toàn dân Việt Nam biết ơn Ngô Tổng Thống. Ngô Tổng Tống, Ngô Tổng Thống muôn năm!” Ðến đầu cầu thang ngửng lên tôi bắt gặp ngay gương mặt chưng hửng của ông cụ! Tuy ông cụ không nói gì nhưng tôi đoán chắc bụng ông không vui. Tôi biết ông cụ tôi chúa ghét cái trò suy tôn cá nhân, dù người đó là ông trời đi nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Một vài năm sau tôi chứng kiến một câu chuyện khác khiến tôi tin rằng cái trò suy tôn này đã làm cha tôi không ưa chế độ. Ai cũng biết là hồi đó dưới thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đi xem xi-nê đều phải đứng dậy chào cờ. Dưới chế độ Ðệ Nhị Cộng Hòa luật chào cờ này bị bãi bỏ. Ði giải trí mà phải chào cờ đã là một chuyện vô lý. Nhưng còn thậm vô lý hơn nữa là khi lá quốc kỳ chiếu trên màn ảnh thì chính giữa lại có một khoảng bầu dục in hình vị thủ lãnh quốc gia: chân dung Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Ông cụ tôi một bữa đi xi nê tại rạp hát Vĩnh Lợi khi ông buộc phải đứng lên chào cờ ông đã tức giận đứng dậy bỏ về không xem xi nê. Chuyện này tôi biết vì chính tai tôi nghe ông cụ bất mãn than thở với chú Lê Văn Kiểm, một người bạn thân của ông cụ tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Hãy tưởng tượng ông cụ tôi, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, bị buộc phải đứng dậy (không phải để chào cờ) để suy tôn ông Ngô Ðình Diệm!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Tôi chắc là có những người có thể bảo đây là chuyện nhỏ và đổ lỗi cho Bộ Thông Tin làm việc này chứ ông Diệm không hay biết. Nói gì thì nói ở cương vị lãnh đạo quốc gia ông Diệm là người phải chịu trách nhiệm về cái trò suy tôn quá lố này của thuộc cấp. Ðây là một trong những điều khiến cha tôi bất mãn với chế độ nhà Ngô.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Mấy năm sau ngày chấp chánh của chế độ nhà Ngô sự bất mãn của dân chúng gia tăng với sự độc tài gia đình trị của gia đình này. Cả cha tôi và tôi lúc này đều đã về ở hẳn Sài Gòn. Riêng cha tôi vì mua một miếng đất ở Fim-nôm gần Ðà Lạt nên ông thỉnh thoảng vẫn đáp xe đò Minh Trung lên trên ấy vào rừng để “tu tiên” bên dòng suối Ða Mê. Nhưng “tu tiên” không được vì những biến chuyển chính trị ở Sài Gòn khiến cha tôi không thể ngồi yên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Năm 1958 cha tôi ra tờ báo Văn Hóa Ngày Nay. Tự tay cha tôi vẽ và trình bày bìa cho tờ đặc san này. Ở trên góc bìa đề hàng chữ lớn: Số ra mắt 17 tháng 6, 1958. Chúng tôi không một ai để ý đến cái ngày 17 tháng 6 có ý nghĩa gì cho mãi đến khi tôi gặp anh Lê Hưng. Anh Hưng nói với tôi trước bàn thờ ông cụ: “Anh Tam làm cái gì cũng tính toán rất kỹ lưỡng. Anh chọn ngày ra báo 17 tháng 6 là ngày giỗ của đảng trưởng Nguyễn Thái Học, cũng như anh chọn ngày chết 7 tháng 7 là ngày chấp chánh của họ Ngô để phản đối chế độ này.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Ở Sài Gòn báo Văn Hóa Ngày Nay bán rất chạy ngay từ số đầu tiên. Năm ấy tôi học lớp Ðệ Nhị trường trung học tư thục Hoàng Việt tại đường Phan Ðình Phùng (khúc giữa Cao Thắng và Lê Văn Duyệt). Trên khúc đường đó có rất nhiều tiệm bán sách hoặc tiệm cho thuê sách. Trên đường đi học qua các tiệm sách này tôi thấy có một hiện tượng mà tôi không hề thấy xẩy ra trước đó: tất cả các tiệm sách này đều có một tấm bảng đen phía trước cửa với hàng chữ viết bằng phấn trắng: HÔM NAY CÓ VĂN HÓA NGÀY NAY.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Nhưng báo chỉ ra được 11 số thì tự ý đình bản. Chúng tôi chưng hửng hỏi ông cụ tại sao báo bán chạy thế mà lại tự ý ngưng? Cha tôi không trả lời. (Ông không có thói quen tiết lộ mọi chuyện cho con cái). Nhưng thái độ của ông lúc ấy rất buồn bã.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Sau này dọ hỏi hai người trong ban biên tập của báo VHNN là ông Nguyễn Thành Vinh và ông Trương Bảo Sơn thì tôi càng kinh ngạc hơn nữa: báo không ra nổi vì lỗ vốn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Trong cuốn sách “Nhất Linh, Người Nghệ Sĩ-Người Chiến Sĩ” do Thế Kỷ xuất bản năm 2004, trang 78, ông Trương Bảo Sơn viết:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">“Tờ Văn Hóa Ngày Nay ra được 11 số thì đình bản, mặc dù được độc giả khắp nơi hoan nghênh. Ôi, chỉ vì nó được hoan nghênh quá xá mà chết non. Nguyên nhân thế này:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">“Trước hết tập Văn Hóa Ngày Nay không được chế độ Ngô Ðình Diệm cho phép xuất bản như một tạp chí mà chỉ là một giai phẩm phát hành không có định kỳ. Vì không có định kỳ nên Bộ Thông Tin kiểm duyệt cố tình để lâu mới trả lại bản thảo để in. Ông Hoàng Nguyên, chủ sự phòng kiểm duyệt đã nói với tôi rằng tuy có nhiều cảm tình với chúng tôi, nhưng không thể làm trái lệnh cấp trên là cản trở tờ Văn Hóa Ngày Nay ra đúng kỳ hạn (tỷ dụ như đúng ngày mồng 1 mỗi tháng) để đọc giả nhớ ngày mua báo. Hơn nữa bài vở phải kiểm duyệt kỹ, nhất là bài của Nhất Linh và Bảo Sơn.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">“Sau nữa, ngoài chế độ kiểm duyệt, phản quyền tự do ngôn luận này ra, chế độ Ngô Ðình Diệm còn có một thủ đoạn hiểm độc nữa là nhà nước giữ độc quyền phát hành báo chí, kể cả giai phẩm. Ngô Ðình Diệm đã có sáng kiến đặt ra Nhà Phát Hành Thống Nhất, bắt tất cả các báo chí phải đưa cho công ty này phân phối. Tập Văn Hóa Ngày Nay bán chạy như tôm tươi mấy số đầu, đã bị ế đi. Nhà phát hành độc quyền của chính phủ đã thi hành độc kế không gửi đủ số báo cho các tiệm sách đã đặt mua. Chúng tôi khi buộc báo thành từng bó đã cố ý đánh dấu riêng, khi nhận báo từ nhà phát hành trả về, thấy những dấu ấy vẫn còn y nguyên, tức là nhà phát hành đã không làm đúng nhiệm vụ, đã giữ báo của chúng tôi trong kho, không phân phối đi. Có những tiệm sách đến điều đình mua thẳng báo với chúng tôi để có đủ báo bán, nhưng chúng tôi phải từ chối vì sợ chính quyền gài bẫy. Ðã nghèo lại bị thua lỗ, chúng tôi đành đình bản tờ Văn Hóa Ngày Nay.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Sau khi được giải thích tôi mới vỡ lẽ vì sao có hiện tượng cái bảng đen với hàng chữ phấn vì chính quyền đã cố ý trì hoãn không cho báo ra đúng hạn kỳ nên độc giả buộc phải chờ khi nào có bảng đề chữ “hôm nay có Văn Hóa Ngày Nay” mới vào mua được.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Những điều nêu trên là sự thực xung quanh vụ đình bản của tờ Văn Hóa Ngày Nay. Nó nói lên sự xâm phạm quyền tự do ngôn luận của chế độ nhà Ngô mà cha tôi là nạn nhân trực tiếp. Cũng như tất cả những nhà văn, nhà báo khác khi họ bị tước đoạt quyền tự do ngôn luận, cố nhiên là Nhất Linh rất bất mãn về chuyện này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Vào năm 1960 trên bìa báo Tự Do Xuân Canh Tý xuất hiện bức tranh năm con chuột đang đục khoét một quả dưa đỏ và nếu lật ngược cái bìa thì quả dưa đỏ là hình bản đồ nước Việt Nam, hàm ý các anh em của gia đình họ Ngô đang phá hoại đất nước. Tờ báo bị chính quyền tịch thu sau khi báo đã phát hành được một số khá lớn. Không một ai biết tác giả bức tranh là ai. Người ta đoán mò họa sĩ Phạm Tăng là tác giả. Nhưng cha tôi cho chúng tôi biết tác giả là một người rất thân cận với ông: họa sĩ Nguyễn Gia Trí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;"> </span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;"><img class="aligncenter" src="http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/143907-Tranh%20Chuot%20.400.jpg" border="0" alt="" /></span><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: small; color: #008080;"><strong>Bìa báo xuân Canh Tý 1960. (Hình: Thư Viện Ðại Học Cornell, Hoa Kỳ)</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Rồi đến cuộc đảo chính hụt ngày 11 tháng 11, 1960 của một nhóm quân nhân Thi Ðông. Cha tôi bị liên lụy thế nào trong cuộc đảo chánh này để đến nỗi mấy năm sau ông cụ tôi phải ra tòa với tội trạng “phản quốc” và “xâm phạm nền an ninh quốc gia” đưa đến cái tự vẫn của ông ngày 7 tháng 7, 1963?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Nửa thế kỷ trôi qua đã có không biết bao nhiêu giấy mực viết về cuộc đảo chính 11 tháng 11, 1960 này cũng như mức độ liên lụy của cha tôi trong cuộc đảo chính, được viết ra bởi những người thuộc nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Ở đây tôi không nhắc lại cũng không dẫn chứng những bài viết này. Tôi không phải là một nhà nghiên cứu, cũng không có tham vọng viết lịch sử, tôi chỉ nêu lên ở đây tiếng nói của một người con. Nếu tiếng nói đó có góp phần soi sáng thêm cho sự thật của lịch sử thì tôi nghĩ rằng đó là việc tôi phải làm vì bổn phận đối với cha tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Trước hết là cha tôi biết trước vụ đảo chính sẽ xẩy ra. Trong cuốn hồi ký “Nhất Linh Cha Tôi” trang 120 tôi viết: “Bốn mươi mốt năm về trước, một ngày trước cuộc binh biến 11 tháng 11, 1960 ở Sài Gòn, bố tôi bất thần trở về căn gác chợ An Ðông nhìn tôi nói nghiệm nghị: &#8216;Ngày mai con có đi chơi đâu thì không được lảng vảng gần khu Dinh Ðộc Lập&#8217;. Cuộc đảo chính thất bại. Tôi nghe nói là bố tôi sau đó đã lẩn trốn ở nhiều nơi trong thành phố.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Sau này tôi nghe nói ông phải đi trốn vì ông có tên trong một tờ truyền đơn chống chính phủ được rải ra trong thành phố vào buổi sáng ngày đảo chánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Mấy tháng sau chúng tôi ngạc nhiên thấy cha tôi trở về nhà. Anh tôi hỏi thì ông cụ trả lời giản dị “Cậu được vô can” và không tiết lộ điều gì hơn. Tôi thắc mắc tại sao ông cụ lại vô can được khi ông biết trước vụ đảo chánh xẩy ra lại có tên ông trong tờ truyền đơn, trong khi hầu hết những người có tên trong tờ truyền đơn bị bắt hết?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Sau này được tiếp xúc với Giáo Sư Nguyễn Thành Vinh, một đàn em cũng là đồng chí của ông cụ, anh Vinh xác nhận với tôi: “Anh Tam đã tuyên bố không làm chính trị, vì vậy anh đứng ngoài, anh chỉ ủng hộ ngầm việc làm của các anh em mà thôi. Tất cả các buổi họp quan trọng trước ngày đảo chánh đều không có mặt anh Tam. Tuy nhiên anh được thông báo mọi diễn tiến. Vì vậy anh Tam biết trước có vụ đảo chánh xẩy ra.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Từ những sự kiện trên và là người con gần gũi và thấu hiểu ông cụ tôi nhất, tôi suy luận thế này:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Một mặt cha tôi bất mãn với chế độ nhà Ngô về sự độc tài của chế độ này. Mặt khác vì lời tuyên bố không làm chính trị của ông năm 1950, lại là người rất trọng danh dự, ông cụ tôi hết sức tránh mọi hành vi đi ngược lại lời tuyên bố của ông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Giữa hai động lực tương phản ấy cha tôi khôn ngoan chọn thái độ đứng giữa nó có thể giúp ông một lúc đạt cả hai mục tiêu: đó là ngầm tán trợ các hoạt động của anh em đồng chí của ông, nhưng riêng ông đứng ngoài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Sự kiện ông cụ tôi không bị bắt có thể vì người ta không tìm ra bằng cớ. Thứ nhất là ông cụ tôi không bao giờ đi họp. Gần đây tôi có dịp tiếp xúc với ông Nguyễn Liệu, ông cho tôi biết là ông Nhất Linh không đi họp đảng phái, người đại diện là ông Nguyễn Thành Vinh. Ông Nguyễn Liệu hiện cư ngụ tại San Jose, Hoa Kỳ, là người đã tham dự vào những cuộc họp của đảng phái và cũng bị giam tù vì liên hệ đến cuộc đảo chính 11 tháng 11, 1960. Thứ hai là có tên trong trong tờ truyền đơn cũng không hẳn là bằng cớ rõ ràng để bắt vì có gì chứng minh ngược lại là người khác để tên ông cụ tôi vào? Vả lại không phải tất cả những người có tên trong tờ truyền đơn đều bị bắt hết. Cũng theo lời ông Nguyễn Liệu thì ngoài ông cụ tôi ra, người có tên trong tờ truyền đơn là cụ Nguyễn Xuân Chữ cũng không bị bắt giữ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Sự việc không bắt cha tôi, ngoài lý do không có bằng cớ, tôi cho còn là một sự tính toán cân nhắc lợi hại của chính quyền họ Ngô chứ chưa hẳn do cảm tình riêng của ông Diệm đối với ông cụ tôi như nhiều người nghĩ. Thứ nhất không bắt ông cụ để ông cụ vô can tức là chứng tỏ cho dân chúng biết Nhất Linh không hề bất mãn và phản đối chế độ ông Diệm. Thứ hai họ nghĩ rằng chặt hết tay chân của ông cụ tôi thì ông cụ tôi còn làm gì được nữa?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Nhưng không bắt bớ không có nghĩa là để cho ông cụ tôi được hoàn toàn tự do. Trong cuốn “Nhất Linh Cha Tôi” trang 36 tôi ghi lại lời của cha tôi nói với tôi buổi sáng ngày 7 tháng 7, 1963: “Cậu chẳng sợ kết quả (ra tòa) ngày mai ra sao vì ở nhà hay ở tù thì cũng mất tự do như nhau.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Ngoại trừ những người trong gia đình tôi rất ít người biết rằng trong hai năm sau cùng của đời ông cha tôi bị giam lỏng tại gia như thế nào. Công an mật vụ canh chừng đến nỗi chúng tôi nhận diện được từng người mỗi khi từ trên lầu căn gác chung cư chợ An Ðông (nơi chúng tôi trú ngụ) nhìn xuống. Trang 40 cuốn hồi ký tôi tả một đoạn khi cha tôi và tôi rời khỏi nhà: “Trên chiếc tắc-xi rời chợ An-Ðông hướng về phía Sài Gòn, tôi thấy cha tôi cứ chốc chốc lại ngoái về phía sau. Ông bảo tôi: ‘Con xem có xe nào theo không? Lúc nẫy cậu thấy có mấy người lạ đứng bên kia đường nhìn vào nhà mình’. Tôi ra hiệu cho tài xế quặt sang đường Trần Bình Trọng, chiếc xe hơi duy nhất chạy phía sau vẫn tiến thẳng đại lộ Thành Thái. Tôi đáp: ‘Không! Không có xe nào theo mình cả!’.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Hãy hình dung cảnh tượng ấy diễn ra thường xuyên trong một thời gian dài thì mới thấu hiểu câu nói của cha tôi “ở tù hay ở nhà cũng mất tự do như nhau.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Vào tháng 5 năm 1963 vụ Phật Giáo bùng nổ ở Huế. Sau đó phong trào Phật Giáo đấu tranh lan rộng khắp nước. Tôi không đề cập chi tiết vụ Phật Giáo này. Hãy để các sử gia nói tới. Tôi chỉ bàn khía cạnh vụ này tác động ra sao đối với ông cụ tôi và nhất là đối với cái chết của ông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Vụ Phật Giáo xẩy ra hai tháng trước khi ông cụ tôi mất. Thời gian này tại căn nhà An Ðông họ canh chừng rất kỹ ông cụ tôi. Trong khi hầu hết các chính trị gia đối lập bị bắt hết sau vụ binh biến 11 tháng 11, 1960, ông cụ tôi là một trong số ít người được tại ngoại, do đó việc tăng cường canh giữ ông cụ là một điều tất nhiên. Ông cụ rất ít ra khỏi nhà. Những tin tức ông biết được bên ngoài là do báo chí (cha tôi sai tôi đi mua báo Tự Do hàng ngày và ông chỉ đọc tờ báo này thôi), ngoài ra có hai người bạn thân của ông thường xuyên lui tới. Ðó là Bác Sĩ Nguyễn Hữu Phiếm và ông Lê Văn Kiểm. Ông Kiểm (mà chúng tôi gọi là chú Kiểm vì chú nhỏ tuổi hơn ông cụ tôi) thường đến hầu như hàng ngày tường trình diễn tiến của vụ Phật Giáo. Ngày 11 tháng 6, 1963 khi chú Kiểm đến báo tin Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu ở ngã tư Lê Văn Duyệt &amp; Phan Ðình Phùng thì cha tôi sững sờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Ảnh hưởng của cái tin này thật khủng khiếp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Tin này là một phần (tôi cho là quan trọng nhất) làm nên cái chết của Nhất Linh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Nếu ảnh hưởng đó không mạnh thì tại sao ông lại dành đến 9 chữ trong lá thư tuyệt mệnh vỏn vẹn 71 chữ của ông để viết lên câu “cũng như Hòa Thượng Thích Quảng Ðức tự thiêu”?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;">Rồi cuối cùng, mãi ba năm sau xẩy ra cuộc binh biến 11 tháng 11, 1960, vào tháng 6 năm 1963 cha tôi bị mời lên Tiểu Ðội Hiến Binh số 635 đường Nguyễn Trãi để lấy khẩu cung và ở đó người ta cho ông biết trước là ngày 8 tháng 7 năm 1963 cha tôi phải trình diện tại Phòng xử án Ðặc biệt Tòa án Quân sự, tòa Thượng Thẩm, số 131 đường Công Lý, Sài Gòn. Trát đòi chính thức sẽ được gửi sau. (Cha tôi nhận được trát đòi vào ngày 6 tháng 7, 1963 lúc 18:00 giờ).</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tin cha tôi sẽ phải ra tòa để xử án này là động cơ tối hậu làm nên cái chết của Nhất Linh.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: medium; font-family: verdana, geneva;"> </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><span style="color: #000000;">Ông có một tuần lễ để sửa soạn cái chết cho chính mình</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày 30-6-1963 (7 ngày trước cái chết) cha tôi đi dự buổi họp tại trụ sở nhóm Bút Việt. Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm viết về sự kiện này như sau (trích trong sách Chân Dung Nhất Linh, tác giả Nhật Thịnh, trang 183): “Tôi dám quả quyết là Nhất Linh đã sắp đặt, ít nhất là một tuần lễ trước cái chết của mình, bằng cớ là ngày 30-6-1963, anh tới dự buổi họp của Trung Tâm Văn Bút mà trước đó anh là chủ tịch, không phải vì văn hóa, mà chỉ cốt gặp mặt một lần chót các văn hữu của anh trước khi sang bên kia thế giới. Ở Trung Tâm Văn Bút ra, Nhất Linh có ghé lại thăm tôi, nhưng tiếc rằng hôm ấy tôi đi vắng”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày 2-7-1963 (5 ngày trước cái chết) cha tôi đến nhà in Trường Sơn làm giấy Ủy Quyền cho con. Trong cuốn sách Nhất Linh Cha Tôi trang 192, tôi viết: “Năm ngày trước khi chết ông đến nhà in Trường Sơn đánh máy tờ Ủy Quyền: Tôi, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, giám đốc nhà xuất bản Phượng Giang và Ðời Nay, ký tên dưới đây xác nhận rằng: trong khi tôi vắng mặt (bất cứ vì lý do gì) thì con tôi là Nguyễn Tường Thiết sẽ thay thế tôi điều khiển hai nhà xuất bản kể trên và quyết định việc xuất bản các tác phẩm của tôi. Làm tại Sài Gòn ngày 2 tháng 7 năm 1963”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày 7-7-1963 (ngày chết) cha tôi đến vĩnh biệt người bạn thân nhất của mình vì tuần lễ trước ông đến mà không gặp. Bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm viết: “Chủ Nhật sau nhằm ngày 7-7-63 Nhất Linh lại tới vào buổi sáng hồi 10 giờ. Tôi đang ngồi trong phòng ăn bỗng anh lặng lẽ đi vào&#8230;”&#8230; “chúng tôi tiễn anh ra cửa lặng lẽ cầm tay nhau, khi ấy tuyệt nhiên trên nét mặt Nhất Linh tôi không hề nhận thấy một dấu hiệu nhỏ nào cho biết chỉ trong vài tiếng đồng hồ nữa anh sẽ xa lánh cõi trần, xa tất cả mọi người thân yêu của anh để đi vào lịch sử.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Buổi sáng hôm ấy sau khi cha tôi đi thăm bác Phiếm về thì chúng tôi, cha tôi và tôi, trên căn gác của chung cư chợ An Ðông bàn bạc rất lâu về đủ mọi chuyện. Cha tôi vốn ít nói và kín tiếng, nhưng buổi sáng hôm ấy lạ thay ông lại tâm sự với tôi rất nhiều điều, ông giảng giải khúc triết và rành rẽ mọi chuyện, và tôi có ghi lại đầy đủ trong chương “Niềm Vui Chết Yểu” trong cuốn sách Nhất Linh Cha Tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng như bác Phiếm lúc ấy tôi hoàn toàn không ngờ cái chết sắp tới của cha tôi, cho đến khi ông sai tôi đi mua rượu và ông tự vẫn trong lúc tôi vắng mặt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chuyện gì xẩy ra trong lúc tôi vắng mặt ấy?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bình tĩnh cha tôi ngồi thảo và viết 71 chữ cuối cùng trong đời ông: 71 chữ cô đọng, đầy đủ, rõ ràng để một người bình thường có thể hiểu được ý nghĩa trung thực của tờ chúc thư tuyệt mệnh của ông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi thảo tờ chúc thư chính trị ấy cha tôi đã sáng suốt tiên liệu là mật vụ nhà Ngô có thể tịch thu bản di chúc nên cha tôi đã cẩn thận viết làm hai bản. Hai bản đó giống nhau, chỉ sai biệt một chữ. Nay, kèm với bài viết này, lần đầu tiên sau nửa thế kỷ, tôi cho công bố cả hai lá thư tuyệt mệnh ấy để độc giả so sánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"> </span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img class="aligncenter" src="http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/143974-DC.400.jpg" border="0" alt="" /></span><img class="aligncenter" src="http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/143974-QD.400.jpg" border="0" alt="" /><span style="color: #008080;"><em><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">Hai bản di chúc và thủ bút của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. (Hình: Tác giả cung cấp)</span></strong></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhất Linh con người ghét chính trị, không muốn làm chính trị, thế mà sau cùng phải chết cho mục tiêu chính trị, đó là chuyện chẳng đặng đừng. Ông phải chết để bảo vệ nhân phẩm của mình như ông Trần Thanh Hiệp đã viết trong cuốn sách <em>Nhất Linh, Người Nghệ Sĩ-Người Chiến Sĩ,</em> trang 132, như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“Vào cái tuổi 57 chưa hẳn quá về chiều của cuộc đời, ông lấy cái chết của mình để cảnh cáo những người cầm quyền bạo ngược, ngang nhiên chà đạp lên mọi thứ tự do là nhân phẩm, thứ giá trị khiến con người khác với các sinh vật khác&#8230;”</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="http://vietnamlit.org/wiki/images/c/c6/Nhat_Linh_book_cover.jpg" alt="" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhất Linh đã chuẩn bị cái chết của mình một cách bình tĩnh. Nhất Linh đã sửa soạn cái chết cho mình trong sự tính toán sáng suốt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cái bình tĩnh ấy, cái sáng suốt ấy dứt khoát là không thể có được ở một con người mắc bệnh tâm thần!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong cuốn sách Một Thời Ðể Nhớ xuất bản năm 2011 tác giả Nguyễn Văn Lục đã dành hẳn một chương (chương 7) để bàn về cái mà ông Lục gọi là Ý Nghĩa Về Cái Chết của Nhất Linh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhưng thay vì tìm hiểu “ý nghĩa” cái chết của Nhất Linh như tựa đề ông Lục đặt ra, suốt bài viết ông Lục chỉ bàn về “nguyên nhân”. Cái nguyên nhân ấy ông Lục hãnh diện “tìm ra” như một khám phá lớn: đó là căn bệnh tâm thần. Theo Nguyễn Văn Lục nguyên nhân Nhất Linh tự tử là do bệnh tâm thần.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Dưới mắt ông Lục không có chuyện Nhất Linh chết vì phản đối chế độ nhà Ngô. Dưới mắt ông Lục tờ giấy mang 71 chữ tuyệt mệnh của Nhất Linh để lại chỉ là mảnh giấy lộn vô nghĩa. Thậm chí ông Lục còn dám xuyên tạc ý nghĩa của thông điệp đó khi ông viết: “Ðời tôi để lịch sử xử. Nhưng lịch sử là ai? Ai xử? Xử như thế nào? Ðã xử chưa? Và lịch sử có phải là ngày hôm nay không? Hay là câu chúc thư trên thực ra phải hiểu như sau: Ðời tôi, để tôi tự xử?” (Trang 177- Nguyễn Văn Lục- Một Thời Ðể Nhớ).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Nguyễn Văn Lục là người khôn ngoan. Ông không dại gì nói tới một người như Nhất Linh lại dựng lên một giả thuyết rất dễ bị bắt bẻ là căn bệnh tâm thần, nếu bài ông viết không có sức thuyết phục. Bài viết của ông đầy những dẫn chứng, từ sách cũng có, từ nhân chứng sống cũng có, khiến người đọc dễ dàng tin ngay những gì ông viết là xác đáng. Chính tôi là người đầu tiên bị lừa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Câu chuyện xẩy ra như thế này:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ba năm trước (2008) một bữa kia tôi nhận được một cú điện thoại của ông Nguyễn Văn Lục. Sau khi tự giới thiệu ông Lục cho biết là ông có số điện thoại của tôi do nhà văn Duy Lam cung cấp. Sau đó ông cho biết ông mới viết xong một bài về Nhất Linh và xin thỉnh ý tôi trước khi in. Ông cũng yêu cầu là nếu tôi thuận thì xin tôi phúc đáp ngay để kịp đăng ý kiến tôi kèm với bài ông viết đang sửa soạn cho in trên tạp chí <em>Tân Văn</em>.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thái độ ấy của ông Lục khiến tôi có cảm tình ngay với ông ta và hứa sẽ hồi âm trong một thời gian thật ngắn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau đó tôi nhận được qua e-mail bài “Chúc Thư Văn Nghệ của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam” với lời yêu cầu: “Xin gửi anh Nguyễn Tường Thiết, để anh đọc. Nếu có điều gì sai sót anh cho tôi biết để xin sửa lại. Lục.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vì hứa sẽ hồi âm nhanh, nên tôi không có thì giờ kiểm chứng lại những gì ông trích dẫn. Tôi trả lời ông Lục ngay như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“Nếu chỉ để ý đến khía cạnh tìm những ‘sai sót’ trong bài (như anh yêu cầu tôi) thì tôi không tìm thấy lầm lỗi nào vì bài anh viết khá công phu dựa trên những tài liệu đã công bố hoặc những nhân chứng sống”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau đó tôi nêu ý kiến là tôi không đồng ý với nội dung bài viết của ông Lục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tôi đã trả lời ông Lục bằng bức thư lời lẽ lịch sự. Sau này đọc kỹ lại những gì ông Lục viết, nhất là sau khi đối chiếu những gì ông trích dẫn với nguyên bản, nhìn thấy rõ hơn con người ông, tôi hối hận là những lời lẽ lịch sự ấy tôi đã đặt lầm chỗ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chuyện ông đăng ý kiến của tôi trên Tân Văn tôi không phản đối.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tôi chỉ phản đối ông Lục bây giờ, nghĩa là ba năm sau (2011) khi ông cho ra cuốn sách <em>Một Thời Ðể Nhớ</em>, trong chương 7 của quyển sách với bài có tiêu đề “Ý Nghĩa về Cái Chết của Nhất Linh”, ông Lục đã không hề hỏi ý kiến tôi mà tự động in trong sách những ý kiến trên của tôi viết ba năm trước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tôi cho rằng ông Lục đã thiếu lương thiện trong việc này. Vì sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông thiếu lương thiện vì đã cố tình lập lờ đánh lận con đen: ý kiến của tôi là ý kiến đáp lại bài “Chúc Thư Văn Nghệ của nhà văn Nhất Linh” ông Lục viết 3 năm trước (2008), chứ không phải ý kiến về bài “Ý Nghĩa về Cái Chết của Nhất Linh” ông viết 3 năm sau (2011) có nội dung khác vì bài viết đã thêm bớt rất nhiều so với bài trước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong cuốn sách mới xuất bản <em>Một Thời Ðể Nhớ </em>ông Lục đã thêm vào một chuyện hoàn toàn không có thực mà bài trước không có. Ðó là chuyện ông cụ tôi, nhà văn Nhất Linh, tự tử hai lần. Tôi xin minh xác đây là chuyện bịa đặt trắng trợn. Nếu trong bài viết ba năm trước ông Lục nêu lên câu chuyện này thì dù không đọc kỹ tôi sẽ nhận ra điểm sai ấy ngay, và chắc chắn sẽ không có câu tôi viết “tôi không tìm thấy lầm lỗi nào”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nay nếu tôi không lên tiếng thì khi đọc cuốn sách của ông Lục với những ý kiến của tôi đi kèm, độc giả (không biết chuyện ông Lục đánh lận con đen) sẽ tưởng là tôi xác nhận chuyện Nhất Linh tự tử hai lần là có thực.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ðây là lý do khiến tôi bây giờ buộc phải lên tiếng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Từ bài viết đầu tiên ông Lục gửi tôi 3 năm trước (2008) với nhan đề “Chúc Thư Văn Nghệ của nhà văn Nhất Linh” đến bài ông viết trong cuốn sách <em>Một Thời Ðể Nhớ </em>ba năm sau (2011) với nhan đề “Ý Nghĩa về cái chết của Nhất Linh” ông Lục đã viết nhiều bài về cái chết của Nhất Linh, mỗi lần viết là ông lại sửa đổi, tùy theo phản ứng của độc giả trong những bài phản bác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi ra sách ông Lục thêm vào hai “bằng cớ” mà ông Lục cho là bằng cớ hiển nhiên để chứng minh rằng Nhất Linh tự tử không phải là để chống đối chính quyền nhà Ngô như Nhất Linh đã nói trong tờ chúc thư chính trị 71 chữ. Hai “bằng cớ” ấy ông Lục dựa vào hai bài viết của Trần Văn Bảng và Lê Nguyên Phu mà ông Lục in tít lớn dưới tiêu đề: “Tìm hiểu ý nghĩa của hai lần tự tử” (Trang 188 -Nguyễn Văn Lục-Một Thời Ðể Nhớ) và “Bằng cớ pháp lý” (Trang 189 &#8211; Nguyễn Văn Lục-Một Thời Ðể Nhớ). Hai vấn đề mới mà ông Lục thêm vào năm 2011 sẽ được bàn tới ở đoạn sau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Lục chia bài Ý Nghĩa Về Cái Chết của Nhất Linh ra làm bốn chủ đề khác nhau: Cái chết định trước của Nhất Linh, Trong phạm vi văn chương, Tìm hiểu ý nghĩa của hai lần tự tử và Bằng cớ pháp lý. Tôi sẽ bàn luận về bài viết của ông Lục theo những chủ đề mà ông đưa ra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong>Cái chết định trước của Nhất Linh</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong chủ đề này ông Lục muốn nói là cái chết của Nhất Linh là do “cuộc đời Nhất Linh chồng chất những thất bại” (chữ của ông Lục dùng) và do căn bệnh tâm thần của Nhất Linh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Theo ông Lục: “Có thể nói cuộc đời Nhất Linh lúc đó chồng chất những thất bại”. (Trang 179- Nguyễn Văn Lục &#8211; Một Thời Ðể Nhớ.) Ðể chứng minh chuyện “chồng chất những thất bại” ông Lục đưa ra hai bằng chứng là vụ đình bản tờ báo Văn Hóa Ngày Nay và vụ Nhất Linh “mưu sát” (chữ ông Lục dùng) TT Ngô Ðình Diệm. Theo ông Lục chuyện tờ báo bị đình bản là việc thất bại thứ nhất cộng thêm vụ mưu sát tổng thống không thành là thất bại thứ hai. Hai thất bại là nhiều lắm, là “chồng chất” lắm, đủ khiến ông Nhất Linh phải chết rồi!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Về vụ đình bản tờ báo Văn Hóa Ngày Nay, xin nói ngay tờ Văn Hóa Ngày Nay không phải là một thất bại, nó là một thành công! Chưa có một tờ báo nào hồi đó bán chạy và được độc giả hoan nghênh đến như thế. Nhưng trong phần I của bài viết này tôi đã nêu rõ nguyên nhân vì sao tờ báo phải tự ý đình bản sau khi ra được 11 số. Tôi không muốn nhắc lại ở đây. Cha tôi phải ngưng tờ báo vì lỗ vốn. Mà lỗ vốn vì bị chính quyền cản trở như ông Trương Bảo Sơn đã vạch rõ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chính ông Lục đã xác nhận nguyên nhân tờ báo tự đóng cửa vì lỗ vốn khi ông viết: “Tôi có hỏi thẳng anh Duy Lam về việc này. Anh cho biết ông Nhất Linh có tâm sự và cho biết những khó khăn về tài chánh nên phải đình bản tờ báo!” (Trang 178- Nguyễn Văn Lục &#8211; Một Thời Ðể Nhớ)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Lục còn nêu lý do tờ báo tự đình bản vì vấn đề sức khỏe của Nhất Linh. Ông viết: “Tình cờ, may mắn thay, tôi tìm được một tài liệu, một mảnh giấy nhỏ kèm trong Văn Hóa Ngày Nay số 9 do một thân hữu, anh Nguyễn Thế Toàn ở Hoa Thịnh Ðốn gửi cho trong đó có lá thư cáo lỗi độc giả của nhà văn Nhất Linh. Nhà văn Nhất Linh cho biết vì lý do sức khỏe, ông đã bỏ nửa chừng công việc&#8230;”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tôi không biết là ông Lục có lá thư của cha tôi viết ấy trong tay hay không (không thấy ông Lục chụp lại để minh chứng), nhưng giả thử có thật thì cũng không có gì lạ. Nếu không nại cớ lý do sức khỏe chẳng lẽ trong thư gửi độc giả Nhất Linh lại đi tố giác chính quyền làm khó dễ như sự thật đã xẩy ra hay sao?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Như tôi đã viết ở phần trước, vụ đình bản tờ Văn Hóa Ngày Nay là kết quả của sự xâm phạm quyền tự do ngôn luận của chế độ nhà Ngô mà cha tôi là nạn nhân trực tiếp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Còn vụ Nhất Linh “mưu sát” TT Ngô Ðình Diệm là chuyện gì đây? Ông Lục viết: “Khi hai phi công ném bom dinh TT Ngô Ðình Diệm mà theo nhiều người, đã có trong tay để biết giờ giấc trong dinh. Nhưng đến phút chót một quả bom của phi công Nguyễn Văn Cử đã không nổ. Vai trò ông Nhất Linh trong vụ ném bom này như thế nào? Làm chính trị đối lập thì khác. Nhưng dính dáng vào một vụ mưu sát thì có bằng chứng rõ rệt tịch thu được trong nhà Hoàng Cơ Thụy, chính quyền nào cũng mang ra xử tội.” (Trang 179, Nguyễn Văn Lục &#8211; Một Thời Ðể Nhớ)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tôi thấy chuyện ông Lục nói rất khó hiểu. Như ông Lục kể ở đoạn trên, Nhất Linh dính líu vào vụ ném bom dinh tổng thống của phi công Nguyễn Văn Cử (xảy ra ngày 27 tháng 2 năm 1962) và bằng chứng rõ rệt tịch thu được trong nhà Hoàng Cơ Thụy. Bằng cớ gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng trong bài viết (trang 191), ông Lục lại đưa ra một trích dẫn khác nói đến chứng cớ công an tịch thu ở nhà ông Hoàng Cơ Thụy liên quan đến vụ đảo chánh hụt 1960: “Xin trích dẫn lại ý kiến của ông Trần Kim Tuyến về vấn đề này trong sách <em>Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Ðình Diệm</em> như sau: ‘Theo bác sĩ Tuyến, khi còn ngồi tại chức, ông có hứa với các chính khách bị bắt sau cuộc đảo chánh hụt 1960 rằng họ được thả về là xong, không còn phải lo lắng gì nữa, ngoại trừ những trường hợp như bác sĩ Phan Quang Ðán thì không kể. Nhưng có điều tai hại là hồi đó người Mỹ cũng như người trong nước cứ lầm tưởng rằng các chính khách bị bắt vì đưa ra tuyên ngôn Caravelle, mà không phân biệt rằng họ bị bắt vì có tên trong danh sách mà công an tịch thu được ở nhà ông Hoàng Cơ Thụy’ (Trang 191, Nguyễn Văn Lục &#8211; <em>Một Thời Ðể Nhớ</em>)”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tôi không nghe ai nói hoặc báo chí đề cập đến việc Nhất Linh dính líu vào vụ bỏ bom dinh độc lập ngày 27-2-1962 của phi công Nguyễn Văn Cử. Không có trát tòa nào đòi Nhất Linh trình diện về vụ mưu sát tổng thống cả. Tôi cũng không nghe ai nói ông Hoàng Cơ Thụy dính líu vào chuyện bỏ bom ngày 27-2-1962 mà chỉ nghe người ta nói đến ông Hoàng Cơ Thụy dính líu đến biến cố 11-11-1960.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ðể tìm hiểu sự thật về vụ ném bom Dinh Ðộc Lập ngày 27-2-1962, tôi có gởi email hỏi ông Nguyễn Liệu hiện sống ở San Jose, CA, là người biết rõ nội vụ, thì được ông trả lời như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“Nhất Linh không có dính dáng gì với vụ ném bom Dinh Ðộc Lập. Vụ ném bom Dinh Ðộc Lập do Nguyễn Văn Lực, một lãnh tụ QDÐ người Bắc là cha của phi công Nguyễn Văn Cử. Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc là bạn. Khi thất bại Cử lái phi cơ qua Miên, ông Lực đi đường bộ trốn qua Miên đến sau vụ đảo chánh 11/63 mới về. Diệm nhốt cả hai đứa em nhỏ của Cử dù chúng chỉ là học sinh. Vụ này chỉ có hai người là cha con ông Lực, giờ chót Cử mới rủ Quốc tham gia. Sau vụ đảo chánh 11/60 thất bại Diệm tăng cường công an mật vụ theo dõi các chánh khách. Mật vụ Ngô Ðình Cẩn do Ngô Trọng Hiếu chỉ huy vào Sài Gòn tăng cường theo dõi, do đó ông Lực không dám tổ chức rộng nên không thể nào ông Nhất Linh biết vụ này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tài liệu trong nhà luật sư Thụy là tin bịa đặt. Lúc ấy nếu có thì báo chí đã đăng lên và nhất là khi xử vụ đảo chánh không hề nhắc đến tài liệu này. Nếu có thì Lê Nguyên Phu đã đưa ra chưởi và làm bằng chứng để kết tội. Ðó là tin Ông Lục bịa đặt&#8230;”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tôi biết ông Lục nhớ chuyện lịch sử lắm, ông Lục không lầm đâu. Ông Lục chỉ cốt bịa ra chuyện Nhất Linh dính líu vào vụ ném bom (27-2-1962) thất bại là để gán cho Nhất Linh thất bại nhiều nhiều một chút, “chồng chất” một chút. Nếu chỉ có một vụ báo Văn Hóa Ngày Nay bị đình bản thất bại thì chả lẽ ông Lục viết “Có thể nói cuộc đời Nhất Linh lúc đó chồng chất một thất bại” à!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tuy Nhất Linh không dính dáng vào vụ mưu sát TT Ngô Ðình Diệm như ông Lục bịa đặt nhưng cứ thử giả thiết Nhất Linh có dính dáng thì đã sao? Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ phải lên đoạn đầu đài ở Yên Bái vì mưu sát Tây thực dân. Bao nhiêu người yêu chuộng tự do dân chủ hiện đang bị giam cầm ở Việt Nam đều mang tội chống phá chính phủ. Gần đây ở các nước Algeria, Libya, Egypt, Syria&#8230; nổi lên phong trào dân chúng chống phá chính phủ lật đổ các lãnh tụ độc tài. Hành động của Nhất Linh nếu ông có dính líu vào việc chống chính phủ thì có khác gì cả triệu người trên thế giới yêu chuộng tự do tranh đấu cho công bằng và lẽ phải?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở một đoạn khác ông Lục viết: “&#8230;tự tử mang ý nghĩa từ chối đời sống vì không tìm thấy trong đời sống một ý nghĩa gì khả dĩ để tiếp tục sống nữa. Tự tử như vậy là một lựa chọn tối hậu khi không còn có sự lựa chọn nào khác. Nhất Linh đã tự tử” (Trang 177 Nguyễn Văn Lục &#8211; <em>Một Thời Ðể Nhớ</em>).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở đây tôi thấy ông Lục hết sức sai lầm khi cho rằng nguyên nhân của tự tử là không tìm thấy trong đời sống một ý nghĩa nào khả dĩ để sống. Như vậy là ông phủ nhận tất cả những danh nhân trong lịch sử đã tự tử để bảo vệ danh dự, bao nhiêu chiến sĩ đã tự tử vì không muốn lọt vào tay địch như Phan Thanh Giản, như Hoàng Diệu, như tướng Nguyễn Khoa Nam, tướng Lê Văn Hưng&#8230; và rất nhiều vị khác mà tôi không thể liệt kê ra hết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Những cái tự tử đó người ta gọi là tuẫn tiết. Cái chết của Nhất Linh, vừa để bảo vệ danh dự, vừa để tranh đấu cho lý tưởng, cũng là một hành động tuẫn tiết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhưng ông Nhất Linh là người khôn ngoan, ông không dùng chữ tự tử để nói về cái chết của ông (có thể ông tiên đoán sẽ có người như ông Lục định nghĩa tự tử đồng nghĩa với chán đời), ông cũng không kiêu ngạo tự coi cái chết của mình là một hành động tuẫn tiết, nên trong lá thư tuyệt mệnh ông viết: “Tôi tự hủy mình để cảnh cáo những người chà đạp lên mọi thứ tự do”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngoài ra ông Lục còn có những lập luận rất mâu thuẫn. Ðể chứng minh Nhất Linh hủy mình không phải vì bất mãn với chế độ độc tài của nhà Ngô mà vì bệnh tâm thần và “thất bại chồng chất” ông Lục đã vẽ ra hai con người Nhất Linh hoàn toàn trái ngược nhau. Một mặt Nhất Linh bị bệnh tâm thần, chán đời, không thiết sống, lúc nào cũng chăm chăm đòi tự tử. Mặt khác Nhất Linh hăng hái tham gia hoạt động văn hóa báo chí, tham gia hoạt động chống chính phủ, tham gia cả việc bỏ bom “mưu sát” tổng thống!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Có thể nào một người bị bệnh tâm thần thấy cuộc đời không đáng sống lại tham gia vào những hoạt động đòi hỏi rất nhiều khả năng cũng như năng lực như thế?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bàn đến chuyện bệnh tâm thần của Nhất Linh, ông Lục viết: “Thất bại của ông thì nhiều, trải dài trong suốt cuộc đời làm chính trị khiến ông bị căn bệnh trầm uất triền miên. <em>Depressive psychosis</em> với ba giai đoạn phát triển tuần tự của bệnh từ s<em>uicidal ideation, suicidal planning </em>và cuối cùng <em>suicidal attempt</em>. Từ ý tưởng sang kế hoạch và sau cùng là thi hành.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“Bệnh tâm thần của Nhất Linh là có thật. Nhưng ít ai trực tiếp nói thẳng ra. Không muốn nói ra và còn muốn giấu giếm.” (Trang 179, Nguyễn Văn Lục &#8211; <em>Một Thời Ðể Nhớ</em>)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong đoạn này ông Lục nói rất vu vơ! Ông nói bệnh tâm thần của Nhất Linh có thật nhưng ít ai nói ra, không biết ông muốn nói “ai” là “ai” hay ông muốn ám chỉ gia đình tôi và bạn bè của Nhất Linh, chúng tôi, những người chung quanh Nhất Linh? Chúng tôi “ai” cũng biết là Nhất Linh không bị bệnh tâm thần qua cuộc đời 40 năm hoạt động văn học và chính trị của ông. Nếu chúng tôi biết Nhất Linh không có bệnh tâm thần mà chúng tôi cứ nói ra là Nhất Linh bị bệnh tâm thần hóa ra đầu óc chúng tôi có vấn đề à?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Một trích dẫn khác của ông Lục dùng để nói về bệnh trạng của Nhất Linh: “Ngay từ khi còn làm báo <em>Phong Hóa</em>, Tú Mỡ đã ghi nhận như sau: Tâm thần bị giao động nhiều, gần như bệnh. Cần phải đi dưỡng bệnh. Ðó là những dấu hiệu có tính cách tiên báo trước”. (Trang 180, Nguyễn Văn Lục &#8211; <em>Một Thời Ðể Nhớ</em>)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nếu ông Lục cho rằng “tâm thần bị giao động” là dấu hiệu báo trước của bệnh tâm thần thì có lẽ “ho” là dấu hiệu báo trước của bệnh ho lao, và “khó thở” là dấu hiệu báo trước của bệnh ung thư phổi! Ðịnh bệnh như thế thì ai cũng bệnh hoạn hết!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cái tiền đề “Nhất Linh, một cái chết định sẵn” mà ông Lục nêu ra nay tôi xin đổi ra là “Nguyễn Văn Lục, một ý nghĩ định sẵn” vì tôi thấy đúng hơn!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Lục có sẵn định kiến trước khi viết. Ðịnh kiến ấy bất di bất dịch: “Nhất Linh bị bệnh tâm thần. Nhất Linh tự tử vì bệnh tâm thần”. Vì định kiến ấy mà ông chỉ nhìn thấy một khoảng rất hẹp, như con ngựa bị bịt hai mắt chỉ thấy phần nhỏ trước mặt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông đọc tất cả các tài liệu mà ông trích dẫn qua con mắt của con ngựa ấy: chỉ nhìn thấy trong khoảng nhỏ những gì có lợi minh chứng định kiến của ông, và cố tình không nhìn thấy một khoảng mênh mông của sự thật nằm ngoài tầm con mắt của con ngựa vì chúng bất lợi cho lập luận của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Lục thừa biết cái lối nghiên cứu quái đản ấy qua bài “Ý Nghĩa Cái Chết của Nhất Linh” là thiếu đứng đắn nhưng ông vẫn làm. Ðộng cơ nào đã khiến ông làm như vậy, tôi thật sự không hiểu và xin nhường nghi vấn này cho độc giả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; color: #000080; font-size: large;"><strong>Nguyễn Tường Thiết</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/07/s%e1%bb%b1-th%e1%ba%adt-v%e1%bb%81-cai-ch%e1%ba%bft-c%e1%bb%a7a-nh%e1%ba%a5t-linh/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Next Generation Photography &#8212; Hình Ảnh Quay Vòng 360*</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/07/next-generation-photography/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/07/next-generation-photography/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 07 Feb 2012 05:04:08 +0000</pubDate>
		<dc:creator>DaHa</dc:creator>
				<category><![CDATA[NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH]]></category>
		<category><![CDATA[Next Generation Photography]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35225</guid>
		<description><![CDATA[Next Generation
 Photography

Hình Ảnh
Quay Vòng 360*
This is absolutely incredible!!  Note it is not just 360 it is 360 at every latitude&#8230;try going up or down!
 360 degree pictures . . . next generation photography &#8230; amazing!!












Don&#8217;t get ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: xx-large;"><strong><img style="float: left; margin-left: 12px; margin-right: 12px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-75-OCT-14-LOGO-CROP.jpg" alt="" width="140" height="137" /><span style="color: #008080;">Next Generation</span><br />
<span style="color: #008080;"> Photography</span></strong></span></div>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: xx-large;"><strong><br />
Hình Ảnh<br />
Quay Vòng 360*</strong></span></p>
<p><strong style="color: #008080; font-family: verdana, geneva; font-size: medium; text-align: justify;"><strong>This is absolutely incredible!!  Note it is not just 360 it is 360 at every latitude&#8230;try going up or down!</strong></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium; color: #008080;"><strong><strong> 360 degree pictures . . . next generation photography &#8230; amazing!!</strong></strong></span></p>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div style="text-align: justify;">
<div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Don&#8217;t get dizzy!! </span><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">You can also look straight up and down too.</span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"> </span><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><br />
Click on the pictures below and when they come up, click again and drag your mouse in any direction and the picture will give you a 360 degree view &#8212; Amazing Photography!!!</span></div>
</div>
</div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
Xin bấm vào những hình ảnh theo số thứ tự 1-5.  Dùng &#8220;con chuột&#8221; di động để có hình quay vòng theo 360 độ, suôi, ngược, tùy ý.  Xin chuyển động từ từ để khỏi bị &#8230; chóng mặt.</span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
</span></div>
</div>
</div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div style="text-align: center;">
<div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: x-large;"><strong><a title="http://www.utah3d.net/panoramas/SulpherCreek_swf.html" rel="nofollow" href="http://www.utah3d.net/panoramas/SulpherCreek_swf.html" target="_blank">PICTURE NUMBER 1</a></strong></span></div>
</div>
</div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div style="text-align: center;">
<div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: x-large;"><strong><a title="http://www.utah3d.net/panoramas/DoubleArch1_swf.html" rel="nofollow" href="http://www.utah3d.net/panoramas/DoubleArch1_swf.html" target="_blank">PICTURE NUMBER 2</a></strong></span></div>
</div>
</div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div style="text-align: center;">
<div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: x-large;"><strong><a title="http://www.utah3d.net/panoramas/PaysonC_swf.html" rel="nofollow" href="http://www.utah3d.net/panoramas/PaysonC_swf.html" target="_blank">PICTURE NUMBER 3</a></strong></span></div>
</div>
</div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div style="text-align: center;">
<div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: x-large;"><strong><a title="http://www.utah3d.net/panoramas_2/AztecButte_swf.html" rel="nofollow" href="http://www.utah3d.net/panoramas_2/AztecButte_swf.html" target="_blank">PICTURE NUMBER 4</a></strong></span></div>
</div>
</div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: x-large;"><strong><a title="http://www.utah3d.net/panoramas_3/GrandView.html" rel="nofollow" href="http://www.utah3d.net/panoramas_3/GrandView.html" target="_blank">PICTURE NUMBER 5</a></strong></span></div>
<div style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: x-large;"><strong><br />
</strong></span></div>
<div style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><strong> </strong></strong></span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org"><span style="font-size: large;">www.vietthuc.org</span></a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/07/next-generation-photography/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tâm sự đầu năm</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/tam-s%e1%bb%b1-d%e1%ba%a7u-nam/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/tam-s%e1%bb%b1-d%e1%ba%a7u-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 05:18:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Huynh Thuc Vy</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35195</guid>
		<description><![CDATA[Tâm sự
đầu năm
Những khoảng tĩnh lặng ngắn ngủi luôn thực sự cần thiết để mỗi người tự làm mới bản thân, nó quan trọng hơn chúng ta nghĩ trong cuộc sống nhiều áp lực này. ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #008080;"><strong><span style="font-size: x-large; font-family: verdana, geneva;"><img style="float: left; margin-left: 12px; margin-right: 12px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-JAN-25-Beautiful-21.jpg" alt="" width="180" height="200" />Tâm sự<br />
đầu năm</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Những khoảng tĩnh lặng ngắn ngủi luôn thực sự cần thiết để mỗi người tự làm mới bản thân, nó quan trọng hơn chúng ta nghĩ trong cuộc sống nhiều áp lực này. Nếu không có chúng có lẽ chúng ta chẳng có đủ năng lực tinh thần và sức khỏe để tiếp tục hành trình cam go của mình. Đó là điều mà bản thân tôi đã trải nghiệm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Khoảng thời gian này tôi không viết, không tham gia hội luận, ít Facebook- những hoạt động khá lý thú nhưng cũng tiêu hao rất nhiều tâm lực. Là một người trầm tĩnh (tôi xin tự nhận định mình như vậy,và ao ước được như vậy), không thích nói nhiều, tôi thích được yên tĩnh một mình để đọc và suy ngẫm. Tránh xa những tranh cãi và sự rầm rộ của truyền thông, tôi hy vọng mình có nhiều thời gian để suy nghĩ về chính mình. Lắm lúc tôi nghĩ rằng, những gì mọi người nói về mình chưa phải là giá trị thực của mình. Một người tự tin và điềm đạm phải là người biết nhận chân chính mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Nhưng hôm nay, trong cái không khí đầu xuân tươi vui của đất trời, tự nhiên lại thích viết vài dòng tâm sự với mọi người. Quả thực, viết nghị luận là việc yêu thích nhất của tôi, nó là thứ đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều về chính mình, về mọi người, về cuộc đấu tranh…Cũng chính vì việc viết lách này, tôi đã phải trực diện đối mặt với những kẻ nắm trong tay bạo lực Nhà nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Nhưng phần nhiều những sự căng thẳng của tôi không đến từ chính quyền. Đối với những đàn áp và khủng bố của bạo quyền có thể nói tôi được chuẩn bị tinh thần từ hai mươi năm trước-từ cái lúc họ bắt bỏ tù ba tôi mười năm, chưa kể đến những sách nhiễu khác trong hai mươi năm nay mà tôi không tiện kể ra đây. Đây là những dòng tôi viết cho những người muốn cản trở niềm yêu thích bé nhỏ của tôi, cái hoài bão con con của tôi (là được sống như một người có ích và được tự do), cản trở cái việc mà tôi nghĩ là mình am hiểu hơn những việc khác, và cũng là việc giúp tôi nhận thức các giá trị của xã hội cũng như nhân phẩm của bản thân. Nếu có ai đó nghĩ rằng việc khuyến dụ, hù dọa, làm phiền có thể làm tôi mất tinh thần và từ bỏ việc tôi đang làm thì họ đã nhầm. Làm sao một người có thể từ bỏ cái công việc định hình cuộc sống của cô ta? Làm sao những hành động sách nhiễu có thể ngăn một người được sống như cô ta vốn có? Quý vị quá dư dả thời gian và tiền bạc để làm những công việc vô bổ, mà chính chúng phủ nhận hoàn toàn nhân cách của quý vị.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đối diện với thế giới hôm nay- nơi mà internet mở tung mọi cánh cửa bí mật và nhạy cảm, nơi mà ngay cả những con người từ lâu đã bị cho là mang một văn hóa xung đột với tự do (Hồi giáo) cũng không thể cam chịu các kẻ độc tài như quý vị, nơi mà những chuyển biến chiến lược  không nằm trong tay những chính quyền bất hảo như quý vị mà ngược lại chính quý vị cũng chỉ là những kẻ bị thời thế xô đẩy trên bàn cờ thế giới, quý vị lo sợ ư? Quý vị lo sợ là hợp lý. Nhưng tôi nghĩ rằng càng lo sợ quý vị càng phải hành động cẩn thận và chính xác, đừng để nỗi lo sợ bị lật đổ khiến quý vị hành động như những đứa trẻ không được dạy dỗ. Tôi vẫn luôn muốn nói với quý vị, nếu quý vị còn chút xét đoán tỉnh táo, rằng : những kẻ sai lầm nếu biết sớm sửa chữa sẽ được thứ tha. Đối diện trực tiếp với an ninh và chính quyền địa phương, tôi có thêm một trải nghiệm sống động về những người cộng sản cầm quyền. Quý vị là những người có tư cách và tài trí quá đỗi tầm thường, quý vị nói năng nhăng cuội và và thiếu hiểu biết như những tên lý trưởng phong kiến. Quý vị tự coi mình là cha mẹ dân. Thật không thể hiểu nổi!Vậy mà quý vị lại muốn tiếp tục ngồi ghế lãnh đạo, không những thế còn ngồi trên đầu trên cổ người dân? Than ôi, những kẻ “đại chí sơ tài” luôn gây ra thảm họa cho xã hội và đến một lúc nào đó sẽ gây ra thảm họa cho chính bản thân họ. Đây là những lời thực tâm từ một người mà tuổi trẻ, sức sống và những cảm nhận nhân văn hẳn nhiên làm cho cô ta nhìn nhận và phát biểu mọi điều một cách trong sáng và chân thật nhất có thể.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Năm nay sẽ là năm cả thế giới và Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều thử thách khó giải quyết. Trong những ngày đầu năm này, bằng tất cả thiện chí,, tôi xin kính chúc quý vị có đủ dũng cảm để hành động như những con người có ý thức chứ không phải là những con thú chạy theo dục vọng. Xin thành tâm kính chúc quý vị có thêm trí tuệ và mãnh lực tinh tấn để : “phóng hạ đồ đao”, không phải để mang lại cái gì cho ai cả mà trước tiên là để quý vị nhận được sự thứ tha từ dân chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trong những ngày qua, điều làm tôi suy nghĩ nặng lòng nhất vẫn là những tấm lòng yêu thương, ngợi khen và kỳ vọng của những người yêu quý tôi. Hơn ai hết, tôi biết sức mình có hạn. Dù ý chí và nguyện ước được sống hữu ích nhưng thật sự tôi biết mình còn quá trẻ, ít kinh nghiệm và quá nhiều thiếu sót. Tôi luôn tự hỏi không biết rồi mình sẽ làm được cái gì tốt đẹp cho trú xứ quê hương này không? Đồng ý rằng, thanh niên là “quốc gia lương đống”, là những người phải gánh vác trách nhiệm với non song do tiền nhân để lại. Nhưng nếu không có những bậc cha anh dày dạn kinh nghiệm, chúng tôi sẽ khó lòng có được thành công. Hơn nữa, những điều đáng để kỳ vọng là tài đức chứ không phải là sự sôi nổi, can đảm và tuổi trẻ. Tôi đang nói về nhiều trường hợp trong đó có tôi. Là một người trẻ, tất nhiên tôi tự tin rằng chúng tôi sẽ có thể góp phần cho một sự thay đổi tốt đẹp của quốc gia. Nhưng có một điều tôi luôn lo lắng rằng rất có thể chính sự nhiệt thành, quá tự tin và quá ưa chuộng những giá trị không thực làm cho tuổi trẻ mắc sai lầm. Đôi khi sự ngợi khen và kỳ vọng của những bậc tiền bối làm cho những người trẻ ảo tưởng về tầm quan trọng của mình. Là những người đang đấu tranh cho một giá trị mới, chúng ta nên chú tâm vào những giá trị thực tiễn chứ không cổ vũ cho những phô trương bề nổi. Tôi vui vì mình được tin yêu nhưng tôi nặng lòng biết bao vì tôi nghĩ mình còn chưa xứng đáng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tôi không ít lần suy nghĩ về một Việt Nam tương lai, Việt Nam ngày đó phải được trao vào tay những người vừa có thực tâm, lẫn thực tài. Gánh vác một quốc gia đang là một con bệnh văn hóa, kinh tế, chính trị là việc không dễ dàng. Những người mang trọng trách này phải là những kẻ sáng mắt và giàu kinh nghiệm như hoa tiêu, từ ái như một vị lương y, cẩn thận và hiểu biết như một chuyên gia. Dẫn dắt một kẻ có bệnh luôn  khó khăn và đòi hỏi nhiều phẩm chất tốt đẹp ở những người lãnh đạo. Những sự bất cẩn, nhiệt tình, phô trương bề ngoài của những người lãnh đạo không phải là những yếu tố tốt lành  và đáng được kỳ vọng cho một Việt Nam vốn đã mang nhiều bất hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Làm người lãnh đạo chính trị một quốc gia không phải là làm ca sĩ, hay minh tinh màn bạc; và chính trị không phải là kỹ nghệ giải trí- nơi mà tính đại chúng luôn được tung hô. Xây dựng và phát triển quốc gia cần những người có thực tài và có chiều sâu hơn là danh tiếng bên ngoài. Thiết nghĩ ngày hôm nay chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về điều này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Như tất cả chúng ta có thể thấy, trong lịch sử nhân loại cũng như trong các sự kiện thế giới gần đây, việc loại bỏ một nền độc tài luôn tương đối dễ dàng hơn và cần ít những phẩm chất tích cực của những người đấu tranh cũng như người dân sở tại hơn việc xây dựng một thể chế mới tốt đẹp. Một cách tương đối, có thể nói rằng nếu việc loại bỏ một thể chế phản động chỉ cần hội đủ những điều kiện dường như tiêu cực hơn như: suy thoái hay sụp đổ nền kinh tế, lòng dân phẫn uất cùng cực, tình hình thế giới biến động, chiến tranh…; thì việc xây dựng nền tự do luôn đòi hỏi ở chúng ta những điều kiện tích cực hơn nhiều: hiểu biết và niềm khao khát tự do, sự thắng thế của văn hóa dân chủ, sự lớn mạnh của các định chế dân sự…Nếu sự ra đi của một chế độ độc tài là một biến cố, thì việc xây dựng nền dân chủ là cả một quá trình liên tục và không có điểm dừng. Một sự nghiệp to lớn như thế cần ở chúng ta- những người đang đấu tranh sự nghiêm túc trong cả suy nghĩ và hành động. Không có tòa nhà to đẹp nào được xây dựng bởi những kẻ lười biếng học hỏi, chểnh mảng và thiếu chín chắn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tôi cho rằng một người đấu tranh cho dân chủ ít nhất phải biết dân chủ có điều kiện, mục đích và đặc trưng nào. Phải có hiểu biết nhất định về một vấn đề ta mới có thể nhiệt thành mà dấn thân vì nó. Không phải bất cứ ai  phản kháng với chính quyền độc tài đều là những người có khả năng kiến lập nền dân chủ . Vậy muốn thành công trong công cuộc xây dựng dân chủ chúng ta phải là những người tôn trọng và đấu tranh cho cái mà tôi gọi là “những giá trị thật” chứ không phải là những giá trị được thổi phồng bởi số đông.</span></p>
<p style="text-align: center;"><img style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-JAN-25-Beautiful-21.jpg" alt="" width="100" height="111" /></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đầu năm mới Nhâm Thìn, với những ưu tư chân thành nhất, tôi viết ra những dòng này. Tôi yêu đất nước tôi, tôi luôn mong muốn Việt Nam trong tương lai sẽ có được những người lãnh đạo có thực tâm để không làm tổn thương dân tộc thêm lần nào nữa, có thực tài để biết cần phải làm gì khi lèo lái con thuyền đất nước. Bất cứ ai thực tâm vì nền dân chủ tôi sẵn sàng ủng hộ và theo gót. Nhưng ngược lại, bất cứ người nào làm điều ngược lại, dù với chút sức lực bé nhỏ, tôi sẽ dùng cả đời mình để cổ vũ sự phản kháng. Một năm mới nữa đã đến, lại cầu nguyện cho tất cả chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: large; color: #000080;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva;">Huỳnh Thục Vy<br />
</span></strong></span><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tam Kỳ ngày 4 tháng 2 năm 2012</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/tam-s%e1%bb%b1-d%e1%ba%a7u-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một tấm hình đáng giá cả nghìn lời nói</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/35073/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/35073/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 05:08:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>DaHa</dc:creator>
				<category><![CDATA[NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH]]></category>
		<category><![CDATA[TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT]]></category>
		<category><![CDATA[Một tấm hình đáng giá cả nghìn lời nói]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35073</guid>
		<description><![CDATA[Một tấm hình đáng giá
cả nghìn lời nói 

A picture&#8217;s worth
a thousand words








 

Source: photo by CLB Tình Nghệ Sĩ 

Xin chia sẻ một tấm hình rất dễ thương và có ý nghĩa: Một ban nhạc của các em học ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: x-large;"><strong><img style="float: left; margin-left: 10px; margin-right: 10px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-FEB-2-12-.-VIETTHUC-LOGO.png" alt="" width="100" height="100" />Một tấm hình đáng giá<br />
cả nghìn lời nói </strong></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: x-large;"><strong><br />
<span style="color: #000000;">A picture&#8217;s worth</span><br />
<span style="color: #000000;">a thousand words</span></strong></span><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: x-large;"><strong><span style="color: #000000;"><br />
</span></strong></span></div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div>
<div><span><strong> </strong></span></div>
<div style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: small;"><strong><img style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-FEB-2-APICTURE-S-WORTH-A-THOUSAND-WORDS.jpg" alt="" width="635" height="357" /><br />
Source: photo by CLB Tình Nghệ Sĩ </strong></span></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><br />
Xin chia sẻ một tấm hình rất dễ thương và có ý nghĩa: </span></strong><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Một ban nhạc của các em học sinh từ một trường Middle School ở Westminster, California trong trang phục áo dài truyền thống của Việt Nam diễn hành trên đại lộ Bolsa trong ngày mùng 6 Tết (27 tháng Giêng năm 2012).</span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><br />
</span><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cô giáo dạy nhạc là người Mỹ và các em học sinh dù các sắc tộc khác nhau nhưng đã cùng mặc trang phục áo dài của người Việt Nam để vinh danh ngày Tết cổ truyền của dân tộc Việt.</span></div>
<div style="text-align: justify;">
<div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
</span></div>
<div style="text-align: center;">
<p><span style="text-decoration: underline;"><a rel="nofollow" href="http://4.bp.blogspot.com/-w0lNkNu5OiE/TyjVUIIgEcI/AAAAAAAAdWw/wNoocIulB24/s1600/Cali3.jpg" target="_blank"><img src="http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/143703-DP_Vietngu_400.jpg" alt="" width="640" height="453" /><br />
<img src="http://4.bp.blogspot.com/-w0lNkNu5OiE/TyjVUIIgEcI/AAAAAAAAdWw/wNoocIulB24/s640/Cali3.jpg" border="0" alt="" /></a><br />
<a rel="nofollow" href="http://2.bp.blogspot.com/-tObGEwXFHEo/TyjVUkMqqRI/AAAAAAAAdW4/g8EuQNmuKy4/s1600/Cali2.jpg" target="_blank"><img src="http://2.bp.blogspot.com/-tObGEwXFHEo/TyjVUkMqqRI/AAAAAAAAdW4/g8EuQNmuKy4/s640/Cali2.jpg" border="0" alt="" /></a><br />
<a rel="nofollow" href="http://2.bp.blogspot.com/-SauJeF1G6IA/TyjVVFKsdYI/AAAAAAAAdXA/18TSoShV0Rs/s1600/Cali1.jpg" target="_blank"><img src="http://2.bp.blogspot.com/-SauJeF1G6IA/TyjVVFKsdYI/AAAAAAAAdXA/18TSoShV0Rs/s640/Cali1.jpg" border="0" alt="" /></a><br />
<a rel="nofollow" href="http://1.bp.blogspot.com/-Y7ID3e9D5yk/TyjVbIq3IGI/AAAAAAAAdXY/vyp_XggYjog/s1600/Cali44.jpg" target="_blank"><img src="http://1.bp.blogspot.com/-Y7ID3e9D5yk/TyjVbIq3IGI/AAAAAAAAdXY/vyp_XggYjog/s640/Cali44.jpg" border="0" alt="" /></a><br />
</span><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><span style="font-size: large;"><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org<br />
</a></span></strong></span></strong></span></strong><img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/35073/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Người Trí Thức Đưa Đất Nước Đi Lên</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/ng%c6%b0%e1%bb%9di-tri-th%e1%bb%a9c-d%c6%b0a-d%e1%ba%a5t-n%c6%b0%e1%bb%9bc-di-len/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/ng%c6%b0%e1%bb%9di-tri-th%e1%bb%a9c-d%c6%b0a-d%e1%ba%a5t-n%c6%b0%e1%bb%9bc-di-len/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 05:07:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyen Quang Duy</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT]]></category>
		<category><![CDATA[Người Trí Thức Đưa Đất Nước Đi Lên]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35094</guid>
		<description><![CDATA[
Người Trí Thức
Đưa Đất Nước
Đi Lên
Hoa Kỳ luôn giữ vai trò cường quốc số một thế giới là nhờ đã đặt giá trị của con người đúng mức. Nhất là giá trị những người trí ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;">
<p><span style="color: #008080; font-size: x-large;"><strong><img style="float: left; margin-left: 10px; margin-right: 10px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-48-MAR-4-INTELLECT-1-9-.jpg" alt="" width="100" height="102" /><span style="font-family: verdana,geneva;">Người Trí Thức</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva;">Đưa Đất Nước</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva;">Đi Lên</span></strong></span></p>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hoa Kỳ luôn giữ vai trò cường quốc số một thế giới là nhờ đã đặt giá trị của con người đúng mức. Nhất là giá trị những người trí thức. Về lý thuyết Hoa Kỳ có cả một trường phái kinh tế học ra đời vào những năm 1980, chứng minh được tăng trưởng và phát triển quốc gia tùy thuộc vào tri thức (<em>new growth theory</em>).</span></div>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Dựa vào lý thuyết và thực tiễn chứng minh được, người theo trường phái này hướng đến những chính sách xây dựng môi trường phát huy và tận dụng những tài sản trí tuệ nhân lọai. Họ cổ vũ việc các quốc gia muốn phát triển cần tôn trọng nhân quyền, dân chủ, tự do và khuyến khích một thế giới tự do trên mạng tòan cầu.</span></p>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="font-size: large;"><strong>Việt Nam Tồn Tại Trong Suy Thóai – Chết Lâm Sàng</strong></span></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
Gần đây diễn đàn BBC mở ra một cuộc tranh luận về vai trò của những người trí thức trong hòan cảnh Việt Nam hiện nay. Một hòan cảnh mà ông Nguyễn Phú Trọng phải công khai bàn đến việc chỉnh đốn đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tránh sụp đổ. Còn ông Lê Khả Phiêu diễn tả “Đảng tồn tại trong suy thoái”.</span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đảng Cộng sản lại là đảng cầm quyền vì thế đất nước cũng luôn trong cùng một tình trạng: tồn tại trong suy thóai. Theo cách nói của Giáo Sư Ngô Bảo Châu là Việt Nam đang chết lâm sàng.</span><span style="font-size: large;"><strong> </strong></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="font-size: large; font-family: verdana,geneva;"><strong><br />
Trí Thức Ta – Trí Thức Nô Lệ</strong></span></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
Mồng một Tết, trên diễn đàn BBC nhà văn Võ thị Hào lập luận lịch sử Việt Nam là lịch sử của những người nô lệ. Ngày nay đại đa số người làm việc bằng trí óc chỉ vì miếng ăn ngon. Họ vẫn là những người nô lệ.</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
Bà Hào cho rằng trí thức như bộ não của xã hội. Nếu xã hội không có trí thức thì cũng như con người không có bộ não. Nói theo kiểu của nhà văn Phạm thị Hòai thì độ cao trí tuệ của người trí thức Việt Nam chỉ tính từ cái cổ trở xuống. Đó chính là lý do Việt Nam vẫn thua xa các nước trong vùng.</span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
</span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong>Thợ Văn, Thợ Báo, Thợ Vẽ, Thợ Thơ, Thợ Dạy, Thợ Nhạc …</strong></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><br />
</strong></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng ngày đầu năm được nhà văn Phạm thị Hòai phỏng vấn, nhà báo Lê Phú Khải diễn tả trí thức Việt Nam ra hình hài “người” hơn. Ông Khải cho biết: “<em>Theo tôi thì ở Việt Nam, trừ một số ít trí thức có tư duy độc lập còn thì không có đội ngũ trí thức đúng với tên gọi, đúng với nội hàm của nó. Cái gọi là tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa là những người do Đảng đào tạo nên để làm công chức cho Đảng. Vì thế Đảng nói gì họ nghe nấy, Đảng bảo sao họ làm vậy, vậy thôi.</em>”Những công chức của “Đảng” bao gồm nhà văn, nhà báo, giáo sư, họa sỹ, nhạc sỹ … nghĩ cho cùng chỉ là thợ viết văn, thợ viết báo, thợ dạy, thơ vẽ, thợ viết nhạc, thợ làm thơ … không hơn không kém. Việt Nam chỉ là một cơ xưởng “sáng tác”. Họ sáng tác theo mệnh lệnh của “Đảng” và nhằm phục vụ “Đảng”. Lẽ đương nhiên khi làm người, ai cũng muốn vươn lên, nhưng chính cái hệ thống của “Đảng” đã không tạo cơ hội hay cho phép họ trở thành người trí thức.</span><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"> </span><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong> </strong></span></div>
</div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi đảng Cộng sản không còn tư tưởng để bám víu, không còn quyền lực để ban hành mệnh lệnh, tầng lớp công chức “Đảng” trở nên tê liệt, ù lỳ, thiếu khả năng “sáng tác” và trở thành gánh nặng xã hội. Xã hội lâm vào tình trạng chết lâm sàng.<br />
</span><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><br />
</strong><strong>Trí Thức Tây – Những Con Người Tự Do</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong khi những người thuộc thế hệ trước hết sức bi quan, được báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần phỏng vấn Giáo sư Ngô Bảo Châu cho biết “<em>vẫn đầy niềm tin tương lai</em>”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Được hỏi về vai trò của trí thức ông Bảo Châu cho biết: “<em>Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội</em>.” Cách suy nghĩ của Giáo sư Bảo Châu là cách suy nghĩ của một người được đào tạo và làm việc trong môi trường Khoa Học thực nghiệm Tóan Tây Phương. Tạm gọi là Trí Thức Tây.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Phương cách giáo dục thực nghiệm của Tây Phương đào tạo những con người biết suy nghĩ, tự tìm và tự giải quyết vấn đề một cách thuần lý. Từ đó, xã hội đánh giá sự đóng góp của cá nhân qua những thành quả có thể đo lường được. Những công trình được phổ biến trên các tạp chí các diễn đàn chuyên môn. Những bằng sáng chế được quốc tế công nhận. Những sản phẩm cả tinh thần lẫn vật chất nhằm phục vụ cho nhân quần xã hội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Từ phương cách giáo dục thực nghiệm những người làm chuyên môn đều tích cực tranh luận trên các lãnh vực chuyên môn nhằm tìm ra sự thực hay phát hiện những điều mới mẻ. Kiến thức của họ truyền đạt, chuyển hóa, tích lũy và biến thành kiến thức chung của nhân lọai. Ảnh hưởng và uy tín của họ phát xuất từ khả năng chuyên môn mà họ truyền đạt và đóng góp cho xã hội. Trường hợp của Giáo sư Bảo Châu là cụ thể và rõ ràng nhất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vì làm việc trong một môi trường xã hội hòan tòan tự do và những đóng góp đều được xã hội tôn trọng đúng mức, những người làm chuyên môn Tây Phương thường rất ít tham gia vào những cuộc tranh luận về chính trị hay chính sách. Nói đúng ra họ ít có cơ hội để cất tiếng phê phán chính sách của các chính phủ do dân chúng bầu ra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Những Con Số Biết Nói</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Theo thống kê, trong 5 năm 2006-2010, số bằng sáng chế được quốc tế công nhận đứng đầu là Mỹ với 1.000.900 bằng, đứng thứ 2 là Nhật Bản 197.075 bằng. Trong khi ấy Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế, thấp hơn nhiều so với hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điều oái oan là riêng tại Hoa Kỳ ước tính có khoảng hơn 280 nhà phát minh người Mỹ gốc Việt được cấp bằng sáng chế, chỉ riêng Tiến sỹ Đoàn Trung đóng góp 72 bằng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Có thể vì nhận ra điều này giáo sư Ngô Bảo Châu quyết định về Việt Nam mỗi năm 3 tháng điều hành Viện Toán Cao Cấp. Giáo sư Bảo Châu cho biết: “<em>hiện nay tỷ lệ giảng viên toán có trình độ tiến sỹ chỉ là một con số rất nhỏ, quan trọng hơn tỷ lệ giảng viên toán có các công trình nghiên cứu khoa học theo chuẩn quốc tế nào đó lại là một con số vô cùng nhỏ</em>.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thực trạng khoa học nêu trên là do đảng Cộng sản luôn tự cao tự đại cho rằng họ là đỉnh cao của trí tuệ lòai người, do phương cách điều hành “hồng hơn chuyên”, và nhất là do thiếu hẳn một môi trường tự do cho sáng tạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Hành Động Theo Cừu</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở Tây Phương người khoa bản khi được thụ phong giáo sư đòi hỏi phải có ý kiến về các chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến chuyên ngành và đến xã hội. Họ thường là tiếng nói của Viện Đại Học họ đang làm và phải sẵn sàng để nhận lãnh vai trò cố vấn cho chính phủ khi được mời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong khi ấy giáo sư Châu lại cho rằng người trí thức “<em>không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội</em>.” và xác nhận “<em>Nói đến chuyện thay đổi chính sách là tôi lại băn khoăn. Hình như cái mà ta làm cho đến nay là thấy cái gì chưa ổn thì ta sửa lại, sắp xếp lại, mà ít để ý đến sự vận động tự nhiên của cuộc sống</em>.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Giáo sư Bảo Châu đã nhận ra cái hệ thống mà giáo sư đang phục vụ, vận động phản tự nhiên, nói theo từ chính trị là “phản động”. Đương nhiên ông phải biết thực trạng Việt Nam không có một môi trường sinh họat tự do. Đảng Cộng sản luôn ôm đồm lãnh đạo mọi thứ. Buồn thay giáo sư Châu lại cho rằng những người trí thức như ông không có vai trò để đưa ra một hướng đi cụ thể nhằm xây dựng một xã hội, một nền khoa học tự do cho Việt Nam. Ông đơn thuần làm khoa học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Giáo sư còn cho biết “<em>những khó khăn mang tính chất hành chính thì vẫn muôn hình vạn vẻ, nhưng tôi hi vọng giai đoạn này cũng sẽ chóng kết thúc để năng lượng được dồn vào những việc thật sự bổ ích là làm khoa học</em>.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngừơi viết cũng chưa bao giờ thấy các giáo sư tại Úc than phiền như trên. Tại Úc, người khoa bản đều biết tự trọng không luồn lách qua nhưng thủ tục nhiêu khê cho được việc. Ngược lại họ là những người luôn công khai đóng góp những phương cách để tháo gỡ những bế tắc hành chánh khi có chuyện xẩy ra. Với họ đây cũng chính là những đóng góp thực sự cho sự thăng tiến xã hội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Mặc dù cho rằng người trí thức “<em>không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội</em>.”, Giáo sư Châu quan niệm: “… <em>cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng</em>.” Xã hội chết lâm sàng cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam tồn tại trong suy thóai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Giáo sư Nguyễn Huệ Chi có nhận xét như sau: &#8220;<em>Giáo sư Ngô Bảo Châu cũng đã nói đến cái phần sau là nếu không có phản biện thì xã hội chết lâm sàng. Nhưng trách nhiệm của cái xã hội chết lâm sàng ấy không đặt vào vai của trí thức thì đặt vào vai ai</em>&#8220;. Người trí thức làm việc bằng lý và được đào tạo để làm sáng tỏ vấn đề nên khi họ phê phán hay tranh luận dễ thuyết phục người nghe. Vì thế công việc phê phán chính yếu là công việc của người trí thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Mâu thuẫn trong lời nói dễ dẫn đến mâu thuẫn trong hành động. Trước đây giáo sư Châu cho rằng “…<em>bám theo lề là việc của con cừu, không phải việc của con người tự do</em>.” Thế nhưng nếu người tự do khi sống giữa những người nô lệ lại không có tiếng nói hướng dẫn người nô lệ đứng lên đòi quyền tự do, thì có khác chăng <strong>ngừơi tự do sống giữa đàn cừu lại hành động theo cừu</strong>. Theo cách nói ông bà ta “<em>gần mực thì đen, gần đèn thì sáng</em>”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Những Câu Hỏi Cho Giáo Sư Bảo Châu</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở Tây Phương trong vai trò giáo sư và giám đốc Viện Toán Cao Cấp, Giáo sư Bảo Châu phải trả lời những câu hỏi về các chính sách của chính phủ, có ảnh hưởng đến Viện ông điều hành và đến chuyên ngành Tóan Học. Nhất là khi Viện Tóan Cao Cấp vừa được thành lập với kinh phí 650 tỷ đồng hơn 30 triệu Mỹ Kim.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tiến sỹ Vũ Duy Mẫn (United Nation New York) có một số câu hỏi như sau: Liệu toán học có phải là ngành cần đầu tư phát triển nhất ở Việt Nam? Khoa học xã hội, nông nghiệp hay môi trường có xứng đáng được ưu tiên phát triển hơn và mang lại nhiều lợi ích trực tiếp hơn cho đất nước ? Việt Nam là nước đang phát triển, còn rất nghèo, có nền toán học chưa tiên tiến. Vậy tại sao lại “hào phóng” đầu tư nghiên cứu toán cao cấp để có thể người được hưởng lợi nhiều chưa chắc đã là Việt Nam? Mục tiêu phấn đấu “<em>đến năm 2020 toán học Việt Nam có thứ hạng thứ 40 trên thế giớ</em>i” có ý nghĩa gì ? và thực chất có đáng để đầu tư hay không ? Nhiệm vụ cụ thể và đòi hỏi trách nhiệm giải trình của Viện trước chính phủ là gì ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Các câu hỏi nêu trên xuất phát từ bài “Gíao Sư Ngô Bảo Châu tiết lộ ‘bí mật’ của Viện Toán cao cấp” đăng trên báo Giáo duc Việt Nam. Các câu hỏi nêu trên dễ dẫn đến kết luận nhà nước cộng sản đưa tiền thuế của dân cho Viện chỉ để xây dựng một tháp ngà tóan học tại Việt Nam đánh bóng cho đảng Cộng sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sống và làm việc tại các quốc gia Tây Phương mọi việc đều minh bạch, nếu Giáo Sư muốn giữ gìn uy tín, Giáo Sư hay ai đó trong Viện phải trả lời rõ ràng các câu hỏi nêu trên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Giáo Sư Bảo Châu Nên ở Phương Tây</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng vì Việt Nam chưa có một môi trường sinh họat tự do nên tuyệt đại đa số những chuyên gia được đào tạo và làm việc chuyên môn tại Tây Phương đều ngao ngán khi nghĩ đến việc về nước phục vụ dù chỉ là ngắn hạn. Một số rất nhỏ trở về, nhưng lại trở ra với những nỗi thất vọng tràn trề. Những người này thường quan niệm đơn giản không muốn tham gia chính trị, phi chính trị thậm chí không muốn biểu lộ quan điểm chính trị. Thế nhưng khi về Việt Nam họ mới nhận ra chính trị do “Đảng” lãnh đạo bao trùm mọi vấn đề.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Người viết trân quý tâm và tài của Giáo sư Bảo Châu. Nhưng qua những việc kể trên và phương cách Giáo sư Bảo Châu giải quyết và ngụy biện, người viết tin rằng giáo sư đã chọn sai đường khi trở lại Việt Nam. Nếu ông ở Hoa Kỳ hay Pháp ông sẽ dành thời giờ qúy báu đóng góp cho khoa học cho nhân lọai thay vì về Việt Nam làm việc. Làm như thế ông được cả nhà cầm quyền cộng sản lẫn dân chúng tôn trọng và lắng nghe hơn.<strong> </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong> </strong><strong>Trí Thức Cổ Hủ &#8211; Trùm Chăn</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trả lời góp ý của Blogger Bọ Lập (Nguyễn Quang Lập), Giáo sư Ngô Bảo Châu cho biết định nghĩa về trí thức của ông là “ hơi cổ hủ ” giống như trí thức “trùm chăn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng theo ông vai trò lên tiếng không phải của riêng người trí thức mà là của người nông dân, của người doanh nhân, của mọi người. Điều ông nhận xét hòan tòan đúng trong một môi trường tự do. Ở đó mọi người đều được huấn luyện, có cơ hội, có tự do và bình đẳng như nhau. Tại Việt Nam khác xa người nông dân, người doanh nhân, … thậm chí mọi người mất đi cái quyền được nói. Họ sợ nói khác “Đảng” sẽ bị khép cho các từ “phản động chống Đảng”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng ngày mồng một Tết Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đưa tin: “<em>Ông Dư Kiệt, Phó Hội trưởng Hội Văn bút Độc lập Trung Quốc, mới đây đã sang Hoa Kỳ tị nạn, cho biết tại một cuộc họp báo ở Washington rằng ông đã bị nhà cầm quyền Trung Quốc</em><em> </em><strong><em>tra tấn một cách tàn nhẫn và đe dọa chôn sống</em></strong>.” Thân phận của người trí thức Việt Nam cũng không khác mấy, thậm chí còn tệ hại hơn thân phận của người trí thức Trung Hoa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vì thế chỉ một thiểu số người có học hàm khôn khéo và can đảm cất tiếng nói. Những người trí thức này được xã hội lắng nghe hơn. Đừng nghĩ rằng họ muốn độc quyền phản biện mà ngược lại họ ao ước thêm người cùng cất tiếng nói, để họ có thể nói mạnh hơn mà lại ít nguy hiểm hơn. Quan sát kỹ tình hình sẽ dễ dàng nhận ra điều này.</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bởi thế thay vì về Việt Nam xây dựng một tháp ngà tóan học để đánh bóng cho đảng Cộng sản, không ít người kỳ vọng Giáo sư Châu nên cân bằng nỗ lực để xây dựng một môi trường xã hội và khoa học tự do.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trên báo Sinh viên Việt Nam số Tết, được đăng lại trên blog cá nhân của Giáo sư Bảo Châu, khi được Lê Ngọc Sơn hỏi “<strong>Trí thức cần gì nhất, theo Giáo sư?</strong>” ông đã trả lời “<strong>Tự do</strong>”. Không phải chỉ riêng người trí thức cần nhất là tự do, mà mọi người Việt Nam đang cần nhất hai chữ <strong>Tự Do</strong>. Thế nên khi Giáo Sư Bảo Châu phát biểu tạo ra không ít dư luận đối nghịch là một chuyện bình thường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điều bất bình thường là nếu Giáo sư Châu không nhận ra vấn đề và tiếp tục tự mâu thuẫn chính mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Trí Thức Dấn Thân</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trái với quan niệm trí thức cổ hũ, Tiến sĩ Jean-Francois Sabouret, một học giả của Pháp chuyên nghiên cứu về các vấn đề châu Á, cũng được BBC phỏng vấn về vai trò của trí thức trong quá trình biến đổi xã hội, ông cho rằng: “<em>người trí thức</em><em> </em><strong><em>&#8220;không có sự lựa chọn nào khác&#8221;</em></strong><em> </em><em>ngoài dấn thân và tiếp tục dũng cảm lên tiếng vì lợi ích chung của xã hội, cộng đồng và nhân loại, dù là họ ở Pháp, ở Việt Nam hay ở bất cứ đâu.”</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông còn nhận xét &#8220;<em>Những người trí thức Việt Nam phải tranh đấu thôi. Họ phải đoàn kết lại. Họ phải xuất bản những tạp chí, những trang web mà tại đó họ phải phản biện, phải có đầu óc phê phán. Đương nhiên điều đó là không đơn giản. Nhưng người ta chỉ có thể bắt bớ một, hay một vài người thôi, chứ làm sao có thể bắt bớ cả một dân tộc được? Điều đó là không thể</em>!&#8221;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Được đài BBC phỏng vấn về ý kiến nói trên, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện cho biết hiện nay đang là lúc Việt Nam &#8220;hơn bao giờ hết&#8221; cần đến tiếng nói phản biện xã hội của giới trí thức để giúp cho xã hội chuyển biến &#8220;ngày một tốt đẹp.&#8221;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Diện cho rằng trí thức hiện nay cần phải có hai yếu tố: &#8220;<em>Thứ nhất là tinh thần tự nguyện. Tự nguyện tức là tự gánh vác lấy. Không chờ là mình phải có chức vụ; không chờ mình được sai bảo hay phân công thì mới lên tiếng. Và thứ hai, ngoài vấn đề tự nguyện, thì phải có sự dấn thân. Tức là phải tham gia vào việc phản biện xã hội, để cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn lên.”</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Nô Lệ Tư Tưởng</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đầu năm 2006, trên diễn đàn BBC ông Nguyễn Trung cho rằng đang là “thời cơ vàng” để đảng Cộng sản đổi mới. Ông tự đặt câu hỏi “kẻ thù đối với vai trò lãnh đạo của Đảng ta là ai?” Người viết đã góp ý như sau “kẻ thù của đảng Cộng sản chính là chủ nghĩa Mác – Lê”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cái khó nhất để làm người tự do là phải lột bỏ tư tưởng nô lệ. Chính việc ông Mác đề cao đấu tranh giai cấp và lấy mục tiêu xã hội cộng sản làm tiêu chí cho mọi suy nghĩ và hành động, mà ngày nay đảng Cộng sản mới phải lâm vào tình trạng tồn tại trong suy thóai. Nói theo Giáo sư Bảo Châu là “chết lâm sàng”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Không nhận ra thân phận nô lệ tư tưởng, đảng Cộng sản lại công khai cho rằng tự phê bình và phê bình là đủ để họ trở nên trong sạch hơn và sáng suốt hơn. Lẽ ra họ phải mở rộng phê phán giữa lý thuyết với thực tiễn thì mới dứt bỏ được tư tưởng nô lệ. Không nhận đúng bệnh thì thuốc uống chỉ rút ngắn ngày tàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đầu năm nay sống ở hai thế giới khác nhau một cộng sản một tự do, ông Nguyễn Trung và người viết, khi nghĩ về đất nước lại cùng chung những ước mơ (1) Con người tự do; (2) Thể chế chính trị dân chủ; (3) Đất nước có hòa bình ổn định; và (4) Tất cả dựa trên căn bản của một nền giáo dục chân chính.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cùng những ước mơ thế nhưng giữa hai người lại có hai hướng giải quyết khác nhau. Ông Trung kêu gọi khép lại quá khứ. Trong khi người viết lại tin rằng vai trò của người trí thức không những chỉ để tìm ra sự thật hiện tại. Người trí thức Việt Nam còn phải truy tìm, làm sáng tỏ và phổ biến những sự thực lịch sử. Có xây dựng được một lịch sử khách quan trung thực thì vết thương dân tộc mới có cơ may khép lại để chúng ta cùng hướng đến tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><br />
</strong><strong>Trí Thức Chống “Đảng”</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhà báo Lê Phú Khải còn cho biết cá nhân ông không cần sự lãnh đạo của “Đảng” vì thế đã từ chối vào “Đảng”. Vì Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam nằm dưới sự lãnh đạo toàn diện, triệt để và trực tiếp của “Đảng”. Sự phủ nhận độc quyền lãnh đạo của “Đảng” đồng nghĩa với chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Việc chống “Đảng”, chống nhà nước cộng sản ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống cả tinh thần lẫn vật chất. Thậm chí còn ảnh hưởng đến đời con đời cháu người chống “Đảng”. Bởi thế theo người viết những người trí thức dứt khóat không chấp nhận sự lãnh đạo của đảng Cộng sản thật hiếm, thật đáng quý, thật đáng trân trọng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><br />
</strong><strong>Khi Giáo Sư Trung Hoa Lên Tiếng</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng lại ngày đầu xuân trong khi giới trí thức Việt Nam đang tranh luận về vai trò của trí thức thì hàng trăm dân Hồng Kông đã tụ tập biểu tình bày tỏ sự phẫn nộ về lời phát ngôn của một giáo sư lục địa gọi họ là con hoang, là đồ chó. Phát xuất từ những va chạm ngôn ngữ, tập quán, pháp lý và văn hóa giữa dân Hồng Kông và dân Lục Địa ngày một gia tăng, Giáo sư Khổng Khánh Đông đã chính thức lên Đài Truyền Hình Trung Ương (V1CN) dùng những ngôn ngữ thô tục nói trên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điều cần nói là giáo sư Khổng Khánh Đông, đang dạy môn Trung Văn tại Viện đại học Bắc Kinh, ông là cháu đời thứ 73 của Khổng Tử. Khổng Học lại là một môn học đang được nhà cầm quyền Bắc Kinh công khai tài trợ. Các Viện Khổng Học đang mọc lên như nấm để truyền bá Khổng Học theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa và mang sắc thái Trung Hoa Cộng sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng may nền Khổng Học nói trên này vẫn còn rất phôi thai tại Việt Nam vì văn hóa Việt Nam không thể chấp nhận các nhà khoa bản ăn thô nói tục như ông Khổng Khánh Đông. Người viết tự tin không mấy người Việt xem ông ta là người trí thức.<strong> </strong></span></p>
<p><span style="font-size: medium;"><strong><img class="aligncenter" style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-48-MAR-4-INTELLECT-1-9-.jpg" alt="" width="100" height="102" /></strong></span><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><br />
Tạm Kết</strong><strong> </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đầu Xuân Nhâm Thìn rõ ràng các trí thức Việt Nam đang nhập cuộc dấn thân. Họ bao gồm cả những trí thức từ Phương Tây trở về hay những người đã được đào tạo trong hệ thống cộng sản trước đây. Qua cuộc tranh luận về vai trò trí thức chúng ta có thể thấy được sự khác biệt giữa trí thức theo “Đảng” và trí thức chống “Đảng”, giữa trí thức Ta và trí thức Tây, giữa trí thức cổ hủ và trí thức dấn thân. Thật ra còn nhiều lọai trí thức khác. Tìm hiểu, phê phán nhưng tôn trọng lẫn nhau đó chính là điểm son của những người trí thức Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Qua đó chúng ta có thể thấy rõ trách nhiệm của người trí thức ngày nay và tương lai có những ưu tiên khác nhau. Người trí thức hôm nay cần nhận vai trò dấn thân xây dựng môi trường tự do để Việt Nam không chết lâm sàng. Người trí thức mai sau lãnh trách nhiệm xây dựng và phát triển quốc gia.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Người trí thức Việt Nam như những cánh én báo một mùa xuân về cho dân tộc. Người trí thức đưa đất nước đi lên.</span></p>
<div style="text-align: justify;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Nguyễn Quang Duy</span></strong></span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
Melbourne, Úc Đại Lợi</span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">29/1/2012</span></div>
<div>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/ng%c6%b0%e1%bb%9di-tri-th%e1%bb%a9c-d%c6%b0a-d%e1%ba%a5t-n%c6%b0%e1%bb%9bc-di-len/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhìn lại Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc và Cải Cách Điền Địa Miền Nam</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/nhin-l%e1%ba%a1i-c%e1%ba%a3i-cach-ru%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-mi%e1%bb%81n-b%e1%ba%afc-va-c%e1%ba%a3i-cach-di%e1%bb%81n-d%e1%bb%8ba-mi%e1%bb%81n-nam/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/nhin-l%e1%ba%a1i-c%e1%ba%a3i-cach-ru%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-mi%e1%bb%81n-b%e1%ba%afc-va-c%e1%ba%a3i-cach-di%e1%bb%81n-d%e1%bb%8ba-mi%e1%bb%81n-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 05:04:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator>TS. Nguyen van Tran</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[LỊCH SỬ - VĂN HOÁ - GIÁO DỤC]]></category>
		<category><![CDATA[Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc]]></category>
		<category><![CDATA[Cải Cách Điền Địa Miền Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35172</guid>
		<description><![CDATA[Nhìn lại Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc
và Cải Cách Điền Địa Miền Nam
Bao giờ tội chống nhân loại của Hồ Chí Minh và tập đoàn cầm quyền cộng sản Hà Nội được đem ra xét ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: x-large;"><strong><img style="float: left; margin-left: 8px; margin-right: 8px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTTZFEB-3.-HCMQUYXANH-LuoiLiem.jpg" alt="" width="100" height="113" />Nhìn lại Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc<br />
và Cải Cách Điền Địa Miền Nam</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bao giờ tội chống nhân loại của Hồ Chí Minh và tập đoàn cầm quyền cộng sản Hà Nội được đem ra xét xử? (*)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chiến tranh chống thực dân pháp giành độc lập kết thúc bằng Hiệp định đình chiến ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Genève chia Việt nam làm hai Miền riêng biệt. Miền Bắc theo chế độ cộng sản dưới quốc hiệu Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Miền Nam đứng về phía thế giới tự do.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày 23 tháng 10 năm 1955, một cuộc trưng cầu dân ý đã được tổ chức tại Miền Nam và kết quả đã đưa tới truất phế Vua Bảo Đại. Triều đại Nhà Nguyễn thật sự chấm dứt. Hiến pháp 26 tháng 10 năm 1956 tấn phong ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Miền Nam và thành lập nước Việt Nam Cộng hòa.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chín năm chiến tranh giải thực kết thúc, hòa bình trên 2 miền Nam Bắc được tái lập. Chánh quyền 2 Miền đều dồn nỗ lực tái thiết đất nước theo đường lối riêng của mỗi chế độ chánh trị. Phát triển kinh tế là ưu tiên mà Chánh sách về Ruộng đất là quan trọng vì Việt Nam vốn là xứ nông nghiệp. Ruộng đất nuôi sống gần 80% dân Việt Nam. Có một Chánh sách Ruộng đất tốt, hài hòa, hợp lý là để xóa bỏ những bất công xã hội do chế độ thực dân tạo ra từ khi Việt nam bị đô hộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở Miền Bắc, Hồ chí Minh thực hiện chánh sách về ruộng đất gọi là “Cải cách Ruộng đất ”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">còn ở trong Miền nam gọi là “Cải cách Điền địa”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chúng ta thử nhìn lại và so sánh hai chánh sách về đất đai của hai Miền, nêu lên những đặc tính và mục tiêu của chánh sách ấy.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="https://encrypted-tbn3.google.com/images?q=tbn:ANd9GcSZFi0ZC2_nJtOTZO1nosLzmZzD47lPiUK3WC0tc1WqokbWcDiw" alt="" width="368" height="274" /><img src="https://encrypted-tbn0.google.com/images?q=tbn:ANd9GcQsM9mCmVmSt4hpURKJqQLf_UWMAvx-N9-ih-rI6VIYz_0c9R8f" alt="" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>I -C</strong><strong>ả</strong><strong>i cách Ru</strong><strong>ộ</strong><strong>ng đ</strong><strong>ấ</strong><strong>t </strong><strong>ở</strong><strong> Mi</strong><strong>ề</strong><strong>n B</strong><strong>ắ</strong><strong>c</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>1-Tình hình m</strong><strong>ớ</strong><strong>i, nhi</strong><strong>ệ</strong><strong>m v</strong><strong>ụ</strong><strong> m</strong><strong>ớ</strong><strong>i</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Năm 1950, Hồ Chí Minh qua Nga, yết kiến Staline với sự hiện diện của Mao-trạch-đông. Staline chỉ ông 2 cái ghế và nói “đây là ghế địa chủ, đây là ghế nông dân. Ông chọn ngồi vào ghế nào?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trở về nước, Hồ Chí Minh không thuật lại với cán bộ nồng cốt của ông là ông đã chọn chiếc ghế nào mà chuẩn bị ngay việc thực hiện cải cách ruộng đất bắt đầu bằng chuẩn bị tư tưởng cán bộ đảng viên để trong công tác, cán bộ sẽ không bị giao động. Ông đưa ra nhận xét tình hình thế giới thuận lợi. Mao-trạch-đông thắng lợi ở Tàu và thiết lập xong chế độ cộng sản trên cả nước. Cách mạng Việt nam đang trên đà thắng lợi. Duy còn khó khăn nhỏ là Mỹ giúp thực dân pháp đánh phá đoàn kết dân tộc. Muốn thắng lợi hoàn toàn, ta phải cùng với nhân dân thực hiện một chế độ dân chủ nhân dân, tăng cường đoàn kết toàn dân, liên kết chặt chẽ với phe xã hội chủ nghĩa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cuối năm 1952, Hồ Chí Minh cho tiến hành cải cách ruộng đất ở những vùng tạm chiếm như Thái nguyên, Thanh hóa, … Nhiều cuộc hành huyết địa chủ bắt đầu trước ở Thanh hóa đã làm kinh hoàng dân chúng, lan rộng đến những vùng “giải phóng” khác. Kịp gần đến ngày ký Hiệp định Genève, Hồ Chí Minh muốn tránh bị dân chúng bỏ chạy vào Nam vì sợ hải nên cho lệnh tạm ngưng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thật ra, kế hoạch chuẩn bị tư tưởng, Hồ chí Minh đã cho tiến hành từ lâu. Trước nhất là chính huấn hay đấu chính trị. Từ 1946 -1949 là chiến dịch phản đế, với khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết”, kêu gọi đoàn kết toàn dân gồm trí thức, tư sản, địa chủ, tôn trọng tư hữu, chỉ nhằm xóa bỏ ảnh hưởng văn hóa pháp biểu hiện qua tư tưởng lãng mạn, cá nhân chủ nghĩa. Mục đích duy nhứt là chống thực dân pháp giành độc lập. Hồ Chí Minh giải tán đảng cộng sản đông dương, thành lập Mặt trận Việt Minh. Giai đoạn kế tiếp 1950-1956 dành cho chiến dịch phản phong đả phá tư tưởng phong kiến nặng về tư hữu, nhứt là sở hữu ruộng đất, trật tự xã hội, giá trị đạo lý cổ truyền để đề cao và thuyết phục chánh sách Cải cách Ruộng đất sẽ phát động là đúng, là tốt, ích lợi cho nông dân để mọi người phải chấp nhận. Phản phong được thực hiện với khẩu hiệu “đưa phản phong lên ngang hàng với phản đế”, đồng thời Hồ Chí Minh cho tổ chức đảng Lao động thay thế đảng cộng sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Phản phong khi được phát động, dân chúng đều hiểu đó là bài trừ những phần tử phong kiến trong đảng hoặc giới quan lại trong Chánh quyền cũ. Thật ra, phản phong là tiêu diệt địa chủ, điều này chỉ có cán bộ học tập ở bên Tàu về để thi hành Cải cách Ruộng đất mới hiểu, nhưng phải tuyệt đối giữ kín Khóa chính huấn đầu tiên khai giảng năm 1953 ở Miền bắc mới nói rõ nội dung khẩu hiệu phản phong là đánh địa chủ, tịch thu toàn bộ tài sản của địa chủ chia cho bần cố nông, tức Cải cách Ruộng đất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau phản phong đến chiến dịch bài trừ tư tưởng tư sản, tự do kinh doanh, tư tưởng dân chủ tư bản tây phương. Tiếp theo, từ năm 1959, sau khi sửa sai vì xem như Cải cách Ruộng đất đã thật sự hoàn tất, Hồ chí Minh cho áp dụng chánh sách triệt để hơn, dẹp bỏ hẳn tư tưởng tiểu tư sản, mọi hình thức sản xuất cá thể, xử lý những thành phần chưa chịu vào hợp tác xã, giữ đầu óc muốn làm giàu riêng. Bần cố nông vừa nhận ruộng đất do Cải cách Ruộng đất cấp phát, nay lại phải đem nộp cho Hợp tác xã.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="https://encrypted-tbn1.google.com/images?q=tbn:ANd9GcT4gw5uV20-zHh-fo1vYvfmtIIXJRGGLlhbQiUsH7O20_sOuswL6A" alt="" /><img src="https://encrypted-tbn0.google.com/images?q=tbn:ANd9GcSZ1rCAsLYeCfrqiO3bebG-TccARnthAjK9kM7-YoXT5B20PxhjPA" alt="" width="293" height="195" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>2- Phóng tay phát đ</strong><strong>ộ</strong><strong>ng qu</strong><strong>ầ</strong><strong>n chúng</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cải cách Ruộng đất long trời lở đất “không do đảng và Nhà nước, mà do nông dân làm”. Để bắt đầu, Hồ Chí Minh cho tiến hành trước 2 chiến dịch: thu thuế nông nghiệp và đấu tranh chánh trị.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Áp dụng thuế nông nghiệp là lặp lại rặp khuôn theo Tàu đã làm từ 2 năm trước nhằm bần cùng hóa xã hội Việt Nam, biến nông dân trở thành bần cố nông. Thuế nông nghiệp là 1 trong 5 loại thuế: thuế nông nghiệp, công thương nghiệp, sát sanh, lâm thổ sản, xuất nhập cảng – Thuế xuất nhập cảng là để khôi hài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Thuế nông nghiệp – Riêng về thuế nông nghiệp, chúng ta thử nhìn lại sơ lược để có ý niệm cụ thể nông dân bị phá sản. Thuế sẽ đánh 5% trên 100 kg lúa, 45% cho 1000 kg lúa trở lên, tối đa là 64%. Thêm vào đó, nông dân trả phụ thu cho đảng 15%. Cả 2 thứ thuế phải nộp một lần, cho đảng và Nhà nước Việt nam dân chủ Cộng hòa và một phần gởi cho Kominforme làm nghĩa vụ quốc tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thử làm bài toán để biết nông dân nộp bao nhiêu mồ hôi nước mắt cho thuế nông nghiệp. Chúng ta lấy 1000 kg lúa. Thuế lấy 45% là 450 kg. Trên số này, nông dân bị trừ 15% thuế phụ thu là 67,5 kg. Nông dân phải nộp thuế nông nghiệp cho 1000 kg lúa thu hoạch được là 517, 30kg. Nếu chủ ruộng không trực tiếp canh tác phải nộp thêm 25% phụ thu nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Diện tích ruộng canh tác và số lúa thu hoạch phải do nông dân bình. Về diện tích ruộng, không căn cứ theo địa bạ lưu giữ. Nông dân bình thường được kích lên, tức bình dọc, bình ngang về diện tích canh tác để qui ra số lúa phải gặt được để trả thuế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Còn thuế công thương nghiệp chỉ có 28% trên lợi tức, nhưng cũng phải do nhân dân bình theo cùng qui cách dọc và ngang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tố Hữu, nhà thơ của đảng, được thưởng huy chương Sao Vàng Hồ Chí Minh, cổ vũ chiến dịch thu thuế trong Cải cách Ruộng đất:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>“Gi</em><em>ế</em><em>t, gi</em><em>ế</em><em>t n</em><em>ữ</em><em>a, bàn </em><em>tay không phút ngh</em><em>ỉ</em><em><br />
</em><em>Cho ru</em><em>ộ</em><em>ng đ</em><em>ồ</em><em>ng lúa t</em><em>ố</em><em>t, thu</em><em>ế</em><em> mau xong</em><em><br />
</em><em>Cho đ</em><em>ả</em><em>ng b</em><em>ề</em><em>n lâu,cùng r</em><em>ậ</em><em>p b</em><em>ướ</em><em>c chung lòng,</em><em><br />
</em><em>Th</em><em>ờ</em><em> Mao ch</em><em>ủ</em><em> t</em><em>ị</em><em>ch, th</em><em>ờ</em><em> Sít-ta-lin b</em><em>ấ</em><em>t di</em><em>ệ</em><em>t”.</em><em><br />
</em><em>T</em><em>ố</em><em> H</em><em>ữ</em><em>u</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Đấu tranh chánh trị – Đấu tranh chánh trị là nhằm thủ tiêu tất cả phần tử bị xem là phản động. Lúc bấy giờ, dân chúng ai chống Việt minh thì hoặc bị giết hoặc bỏ đi ra Thành phố sanh sống. Chỉ còn lại những người lưng chừng. Mà lưng chừng là phản động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu thực chất của « đấu tranh chánh trị » diễn ra liền sau thuế nông nghiệp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Lợi dụng trong lúc dân chúng còn đang điêu đứng vì thiếu thuế, cán bộ cho tập họp để giải quyết trường hợp còn thiếu thuế. Sự thật là nhằm tiêu diệt những thành phần bị ghi vào danh sách cần phải thanh toán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Phòng họp trang bị đầy đủ dụng cụ tra tấn. Cán bộ chủ tịch xã kêu gọi một người thiếu thuế hỏi: “Có phải thằng X xui mày không nộp thuế không?” Tra tấn cho đến khi nào người này gật đầu để tên X bị bắt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đến phiên tên X bị tra tấn: “Mày ở trong tổ chức phản động nào? Phải trong đó có tên Y không?” Người bị tra tấn vì đau đớn khai bừa “Tôi ở trong đảng Bảo Đại, cả đảng Cộng sản nữa” cho đến khi nào chịu nói ra tên người đã được cán bộ mớm trước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Lúc đầu còn nhớ tên người được dặn trước phải khai, sau mất tinh thần, nhớ đâu khai đó. Có người khai cả tên cán bộ chủ tọa phiên đấu chánh trị. Đến đây, đảng cộng sản nhận thấy nếu kéo dài sẽ gây ảnh hưởng xấu cho đảng, làm mất lòng tin của nhân dân đối với đảng, Chánh phủ. Đảng cộng sản bèn cho tổ chức Tòa án nhân dân xét xử phản động bắt được trong chiến dịch đấu chánh trị để xác nhận là thật sự có địch trong nông thôn và mặt khác, đề cao quần chúng luôn luôn sáng suốt, như Mao-trạch-đông dạy. Trong quá trình đấu chánh trị, nếu có vài trường hợp phạm sai lầm nhưng phải thấy chủ trương là đúng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>” …Đ</em><em>ị</em><em>a hào, đ</em><em>ố</em><em>i l</em><em>ậ</em><em>p r</em><em>a tro<br />
L</em><em>ư</em><em>ng ch</em><em>ừ</em><em>ng, ph</em><em>ả</em><em>n đ</em><em>ộ</em><em>ng đ</em><em>ế</em><em>n gi</em><em>ờ</em><em> tan x</em><em>ươ</em><em>ng</em><em><br />
</em><em>Th</em><em>ắ</em><em>p đu</em><em>ố</em><em>c cho sáng kh</em><em>ắ</em><em>p đ</em><em>ườ</em><em>ng,</em><em><br />
</em><em>Th</em><em>ắ</em><em>p đu</em><em>ố</em><em>c cho sáng đình làng đêm nay</em><em><br />
</em><em>Lôi c</em><em>ổ</em><em> b</em><em>ọ</em><em>n nó ra đây</em><em><br />
</em><em>B</em><em>ắ</em><em>t quì g</em><em>ụ</em><em>c xu</em><em>ố</em><em>ng, đ</em><em>ọ</em><em>a đày ch</em><em>ế</em><em>t thôi”</em><em><br />
</em><em>Xuân Di</em><em>ệ</em><em>u</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Quần chúng phóng tay – Còn Cải cách Ruộng đất thật sự được tiến hành làm 2 đợt: giảm tô và cải cách. Cải cách Ruộng đất diễn tiến long trời lở đất này đã được nói nhiều với đầy đủ chi tiết nên thiết tưởng không cần lập lại thêm nữa. Duy có con số tử vong chính xác của nạn nhân chưa được xác nhận. Ngày nay, theo báo cáo chánh thức của Viện thống kê Hà nội***, số tử vong là 172 008 người trong đó có 70 % bị chết oan ức bao gồm những tiểu địa chủ bị kích lên cho đủ 5 % theo tiêu chuẩn của Trung quốc qui định, những cán bộ đảng viên đi theo kháng chiến chống thực dân vì lòng yêu nước tinh ròng không cộng sản. Nhưng con số tử vong thật sự phải cao hơn. Nhiều người từng sống trong giai đoạn Cải cách Ruông đất, như nhà báo Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập nhật báo Nhân Dân, cho biết, theo ước tính, con số nạn nhân ít nhất phải lên đến nửa triệu bao gồm nạn nhân bị hành huyết độc đoán tại hiện trường qua quyết định của Tòa án nhân dân và những người như nạn nhân không bị hành huyết hoặc gia đình, thân nhân của nạn nhân. Những người này bị đuổi ra khỏi nhà, tài sản bị tịch thâu, không có quyền làm việc, bị mọi người xa lánh vì sợ bị liên lụy với giai cấp địa chủ, lần lược chết vì đói rét, bịnh tật do chế độ quản lý hộ khẩu. Trong số nạn nhân này có ít nhất 40 000 đảng viên Cải cách ruộng đất, theo Mao-trạch-đông dạy, phải bộc lộ sự tàn ác càng rùng rợn thì thành công càng lớn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Mỗi chiến dịch đều được chuẩn bị bằng khóa chính huấn dạy cán bộ học tập lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, để cán bộ thi hành nắm vững đường lối, chánh sách đúng theo sách lược mao-trạch-đông Toàn bộ các chiến dịch đều đã được thực hiện ở bên Tàu từ mấy năm trước, mệnh danh là “Chiến thuật mao-trạch-đông” vì Mao-trạch-đông tin rằng chiến thuật này có thể áp dụng ở các nước kém mở mang, cơ bản là kinh tế nông nghiệp, để thực hiện cuộc cách mạng vô sản. Vẫn theo Mao-trạch-đông, chỉ có giai cấp bần nông và cố nông là lực lượng mạnh nhất, sáng suốt nhất, có đủ khả năng lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản đi đến thành công. Mà địa chủ là kẻ thù của nông dân. Chỉ có nông dân mới biết rõ địa chủ nào là gian ác, và gian ác đến mức độ nào nên phải phóng tay phát động quần chúng tố khổ và trị tội bọn địa chủ ác ôn. Đảng cộng sản chỉ giữ nhiệm vụ hướng dẫn, không trực tiếp lãnh đạo</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sửa sai vì Cải cách Ruộng đất đã thành công nên cần bình thường hóa tình hình nông thôn, chuẩn bị đưa sản xuất vào chế độ tập thể hóa, tiến hành xây dựng chế độ chuyên chính vô sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Từ năm 1951, theo nhà báo Bùi Tín, Hồ Chí Minh đã ngã hẳn theo Tàu, rặp khuôn theo đường lối mao-trạch-đông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong một buổi tường trình chuyến thăm viếng Staline hồi năm 1950 với cán bộ lãnh đạo đảng khi ông về nước, Hồ Chí minh không nói rõ ông đã chọn “ghế nông dân hay ghế địa chủ” để trả lời Staline mà chỉ nhấn mạnh: “chúng ta làm Cải cách Ruộng đất phải học tập kinh nghiệm Trung quốc”. Ông dạy cán bộ đảng viên “Đế quốc là con hổ, địa chủ là bụi rậm hổ ẩn núp. Muốn đánh hổ phải tiêu diệt bụi rậm”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Không riêng gì về Cải cách Ruộng đất, Hồ Chí Minh mới học kinh nghiệm Trung quốc, mà cả các ngành khác, Hồ Chí Minh cũng chủ trương học tập rặp khuôn theo mô hình trung quốc như về giáo dục, sản xuất, kinh tế nghiên về kỹ nghệ nặng, …để “nhảy vọt” theo. Ông viết quyển “Những kinh nghiệm quí báu Trung quốc nên học” dưới bút danh Trần Lực, do nhà Sự Thật, Hà nội, xuất bản năm 1950, để làm tài liệu cho cán bộ học tập.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>II- C</strong><strong>ả</strong><strong>i cách Đi</strong><strong>ề</strong><strong>n đ</strong><strong>ị</strong><strong>a </strong><strong>ở</strong><strong> Mi</strong><strong>ề</strong><strong>n Nam</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở trong miền Nam, không nói Cải cách Ruộng đất mà nói Cải cách Điền địa. Trong 20 năm, từ 1955-1975, Miền nam tiến hành 2 cuộc Cải cách Điền địa. Không kể một cuộc Cải cách Điền địa do Cựu Hoàng Bảo Đại ban hành năm 1949, nhưng không thành công. Ruộng đất vừa được phân phối xong thì liền bị Việt Minh tịch thâu, hoặc Việt Minh ngăn cấm nông dân nhận ruộng hoặc làm ruộng. Mặt khác, chiến tranh không cho phép nông dân sanh sống trên phần đất của mình, phải tản cư.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cải cách Điền địa ở Miền Nam thực hiện từ khi Tổng thống Ngô Đình Diệm nắm quyền bằng Dụ số 57 ngày 22 tháng 10 năm 1956. Chánh sách điền địa thêm một lần nữa được Tổng thống Nguyễn văn Thiệu tiếp nối rốt ráo hơn bằng Đạo luật số 003/70 ngày 23 tháng 03 năm 1970, dưới tên gọi mới là Luật Người Cày Có Ruộng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>1 -Cải cách điền địa</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Ngô Đình Diệm, ngày 7 tháng 7 năm 1955, được bổ nhiệm làm Thủ tướng Chánh phủ. Ở chức vụ Thủ tướng Chánh phủ, ông ban hành 2 Dụ, số 2 và số 7 năm 1955, liên quan đến vấn đề thuê ruộng vì từ trước, ở Việt Nam, việc thuê ruộng không có giấy tờ hợp đồng giữa người thuê mướn và chủ ruộng nên thường chủ ruộng lấn ép làm thiệt hại quyền lợi của người thuê. Giá thuê ruộng từ 40% đến 60%, tùy theo ruộng tốt xấu, trên số lúa thu hoạch. Luật về thuê ruộng qui định lại rỏ qui chế tá điền. Từ nay, – giá thuê ruộng từ 10 đến 15% trên số lúa thu hoạch cho ruộng làm 1 mùa / năm;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- giá thuê từ 15 đến 25% cho mùa gặt chánh của ruộng 2 mùa / năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thời hạn hợp đồng là 5 năm, có tái ký. Tá điền có quyền trả ruộng và phải báo trước chủ ruộng 6 tháng. Chủ ruộng muốn lấy ruộng lại phải báo trước tá điền 3 năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vì chiến tranh nhiều người bỏ ra thành thị sanh sống nên số ruộng bỏ hoang tính ra lên đến 500 000 mẫu tây. Trong thời gian Chánh phủ cho kiểm kê, nếu chủ ruộng vẫn vắng mặt, số ruộng này bị trưng thu để cấp phát cho tá điền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau khi lên làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 57 ngày 22 tháng 10 năm 1956 qui định Chánh sách Cải cách Điền địa theo đó, điền chủ có quyền giữ cho mỗi người 100 mẫu đất, phải canh tác 30%, số còn lại cho mướn theo điều kiện luật hợp đồng đã ban hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng truất hữu, chủ ruộng được bồi thường theo giá ruộng, 10% bằng tiền mặt, 90% trả bằng trái phiếu với lãi xuất 3% / năm. Người giữ trái phiếu có quyền sử dụng trong các dịch vụ như trao đổi, kinh doanh, mua bán, …</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng truất hữu bán lại cho tá điền trả góp trong 12 năm vốn và lãi xuất 3% như đối với điền chủ cũ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Có lối 1035 điền chủ bị truất hữu vì mỗi người có trên 100 mẫu. Diện tích ruộng truất hữu là 430 319 mẫu, tính thêm 220 813 mẫu của pháp kiều. Năm 1958, tổng số ruộng truất hữu là 651 132 mẫu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Số tá điền trở thành điền chủ từ năm 1957-1963 là 123 193 người. Ngoài ra còn 2857 người mua trực tiếp từ chủ ruộng, nâng con số điền chủ – mỗi người có tối thiểu 5 mẫu – lên 126 050 người. Và số ruộng mua riêng này là 252 213 mẫu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chánh sách Cải cách Điền địa ở trong Nam làm cho chủ ruộng và tá điền đều hài lòng. Số ruộng đất bị Việt Minh trước đây tịch thu phát cho tá điền vì chủ ruộng vắng mặt, nay Chánh quyền đem trả lại cho chủ và bồi hoàn tiền nếu bị truất hữu.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="https://encrypted-tbn0.google.com/images?q=tbn:ANd9GcRRstPZFa1mG5hpjl84WJ7Bys8RezD11_t7doPZMQMUSq_7UjXKaA" alt="" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>2- Dinh Đi</strong><strong>ề</strong><strong>n và Khu Trù m</strong><strong>ậ</strong><strong>t</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tiếp theo Chánh sách Cải cách Điền địa, Chánh quyền Đệ I Cộng Hòa ban hành Chánh sách Dinh Diền và Khu Trù mật. Huê kỳ, Pháp và Tổ chức Y Tế Quốc tế giúp thực hiện Chương trình này. Chỉ trong vòng từ 1957-1961, Chánh phủ thành lập được 169 Trung tâm định cư đồng bào di cư trong đó có 25 Khu Trù mật, tập trung ở vùng đồng bằng sông Cữu long. Dinh Điền phục hồi hoặc khai thác những vùng đất bị bỏ hoang hoặc đất mới khai phá, đem lại cho đồng bào 109 379 mẫu, nuôi sống 50 000 gia đình gồm 250 400 người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khu Trù mật là nơi tập trung dân sống hẻo lánh, thiếu phương tiện cần thiết cho đời sống như chợ búa, trường học, trạm xá y tế, điện, nước, …Mỗi Khu Trù mật gồm từ 3000 đến 3500 người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Một ngân hàng nông thôn, Quốc Gia nông tín cuộc, được thành lập để yểm trợ Chương trình Dinh Điền và Khu Trù mật bằng cách cho vay với lãi xuất nhẹ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cải cách Điền Địa, Dinh Diền và Khu Trù mật đã biến 176 130 gia đình nông dân nghèo trở thành chủ ruộng đất từ ít nhất 1 mẫu trở lên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sản xuất ở các Khu Trù mật dần dần vượt qua khuôn khổ địa phương nhỏ hẹp để trao đổi trên qui mô vùng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước đời sống an lành của người dân, cộng sản bám trụ ở lại sau Hiệp định Genève xuất hiện và phản ứng thô bạo. Họ ngăn cấm dân mua ruộng truất hữu, cấm ký hợp đồng thuê ruộng, hủy bỏ địa tô, ám sát nhân viên Chánh quyền ở nông thôn như nhân viên Ngân hàng, Y tế, Giáo dục, …</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Còn lại hơn 400 ngàn mẫu đất đã truất hữu để tư hữu hóa cho nông dân, nhưng bị áp lực khủng bố của cộng sản phải bỏ hoang. Từ đây, năm 1958, cộng sản Hà nội bắt đầu dựng lên cuôc chiến trong Miền Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>III- C</strong><strong>ả</strong><strong>i cách Đi</strong><strong>ề</strong><strong>n đ</strong><strong>ị</strong><strong>a và Lu</strong><strong>ậ</strong><strong>t Ng</strong><strong>ườ</strong><strong>i Cày Có Ru</strong><strong>ộ</strong><strong>ng</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tổng thống Nguyễn văn Thiệu thực hiện Cải cách Điền địa bằng 2 giai đoạn: áp dụng luật cũ 57 và ban hành thêm Luật Người Cày Có Ruộng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">1 – Từ năm 1967-1970, ông Thiệu cho tiếp tục áp dụng Luật Cải cách Điền địa cũ của thời Đệ nhất Cộng hòa. Sau vụ Việt cộng tổng công kích Mậu thân thất bại, nông thôn trở lại có an ninh. Số ruộn trước đây bị bỏ hoang nay đem cấp phát cho nông dân. Từ 1967 đến 1969, cò thêm 261 874 gia đình dược cấp ruộng để canh tác, nâng tổng số tá điền trở thành chủ điền lên 438 004 người, vị chi 48% nông dân nghèo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">2 – Phát triển kinh tế nông nghiệp. Chánh quyền cho tổ chức lại ngân hàng nông thôn Nhà nước, đồng thời ngân hàng nông thôn tư cũng ra đời để kịp đáp ứng nhu cầu phát triển. Bộ Canh nông nghiên cứu tạo giống lúa mới, khuyến khích khuếch trương nghành chăn nuôi gia súc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chánh quyền tuyển dụng thanh niên đào tạo cán bộ xây dựng nông thôn gởi về vùng quê để hướng dẩn, giúp đở kỷ thuật cho nông dân trong sanh hoạt hằng ngày, …</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">3 – Luật Người Cày Có Ruộng. Ngày 26 thánh 03 năm 1970, Luật Người Cày Có Ruộng ban hành, áp dụng cho mọi thành phần điền chủ. Luật Người Cày có Ruộng khác với Luật 57 thời Đệ nhất Cộng hòa. Điền chủ tự làm ruộng của mình, nhưng số ruộng quá 15 mẫu, bị truất hữu. Trong vòng 3 năm, 1970-1973, có 51 695 điền chủ bị truất hữu tổng số ruộng là 770 145 mẫu, được chia ra như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- 22 560 điền chủ nhỏ với 61 634 mẫu truất hữu ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- 16 449 trung điền chủ, với 158 110 mẫu truất hữu ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- 12 695 đại điền chủ, với 550 401 mẫu truất hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Luật Người Cày Có Ruộng chi phối số điền chủ có 15 mẫu trở lên. Thành phần điền chủ này chiếm 56% tổng số điền chủ, với 91, 9 % của tổng số diện tích ruộng bị truất hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng bị truất hữu được bồi thường 20% tiền mặt, còn lại 80% trả bằng trái phiếu, lời 10% / năm trong 8 nă.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tiêu chuẩn cấp phát ruông truất hữu: 3 mẫu cho Miền Nam, 1 mẫu cho Miền Cao nguyên và Miền Trung.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng hương hỏa và của tôn giáo không bị chi phối bỡi Luật Người Cày Có Ruộng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước khi Hà nội hợp tác hóa đất đai sau Cải cách Ruộng đất, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Miền Nam chỉ gồm tiểu điền chủ có từ 0, 10 – 5 mẫu và trung điền chủ có trên 5 mẫu ruộng trở lên. Giới đại điền chủ hầu như không còn nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nông dân bắt đầu trang bị cơ giới để canh tác, nhập cảng phân bón, cải tiến giống lúa, tăng gia sản xuất gia súc, …</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>IV -Ru</strong><strong>ộ</strong><strong>ng đ</strong><strong>ấ</strong><strong>t d</strong><strong>ướ</strong><strong>i th</strong><strong>ờ</strong><strong>i quân ch</strong><strong>ủ</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Dưới thời quân chủ việt nam, ruộng đất là sở hữu tối thượng của nhà vua. Nhưng trên thực tế, nhà vua đem ruộng đất phân phối cho dân nghèo để cày cấy sanh sống và nộp thuế. Khi cần, nhà vua có thể thu hồi và bồi hoàn cho người đang canh tác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Việt nam có chế độ quân chủ và kéo dài cho đến ngày 25 thánh 08 năm 1945, vua Bảo Đại thoái vị, nhưng Việt Nam tuyệt nhiên không có chế độ phong kiến. Trái lại ở Tàu và Âu châu, có chế độ phong kiến, với quân đội riêng, luật pháp riêng, tài chánh riêng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sở hữu ruộng đất ở việt nam không quá bất bình đẳng như ở nhiều nơi khác. Trước Thế chiến II, theo kết quả điều tra của nhà kinh tế học Yves Henri công bố năm 1932, ruông đất ở Việt nam được phân phối như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bắc kỳ Trung kỳ Nam kỳ</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng đất Địa chủ % Diện tích Địa chủ Diện tích Địa chủ Diện tích</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trên 50 mẫu 0, 10 % 20% 0, 13% 10% 2, 44% 45%</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Từ 5-50 mẫu 8, 35% 20% 6 % 15% 25, 77% 31%</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Dưới 5 mẫu 90, 88% 40% 93, 80% 50% 71, 73% 15%</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Công điền 20% 25% 3%</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tàu trước khi bị cộng sản Mao-trạch-đông cai trị là một nước độc lập nên địa chủ được Chánh quyền bảo vệ. Trái lại, Việt Nam là nước bị thực dân pháp đô hộ nên địa chủ cũng là nạn nhân của Chánh quyền thực dân. Do đó, họ phần đông đứng lên tham gia chống Tây giành độc lập.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Từ thời nhà Hồ, quyền sở hữu ruộng đất đã được giới hạn cho hợp lý. Qua nhà Lê Thái Tổ, chế độ ruộng đất tiếp tục vẫn giữ theo đây.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhà vua cấp phát cho các pháp nhân như làng xã, Hội hè, Tổ chức, …một khoảnh đất để làm của chung khai thác lấy lợi tức trang trải chi phí sanh hoạt. Các đồn điền khi hoàn tất, được nhà vua đem phân phối cho xã thôn nhưng không được phép bán. Trừ trường hợp bất khả khán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng cấp cho dân chúng thì cứ 3 năm / lần, tái cứu xét gia hạn. Ngoài ra còn có những loại công điền khác dành cấp phát cho những trường hợp đặc biệt như : trợ sưu điền giúp dân nghèo đóng thuế, học điền, giúp học trò nghèo đi học, cô nhi quả phụ điền, giúp cô nhi quả phụ và hậu điền là ruộng của người chết không có con cháu thừa hưởng đem hiến cho chùa, đình,…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhờ chế độ quân phân đất đai mà xã hội việt nam ngày xưa được an bình hơn nhiều nơi khác lúc bấy giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>V – Vi</strong><strong>ệ</strong><strong>t Nam có th</strong><strong>ậ</strong><strong>t s</strong><strong>ự</strong><strong> c</strong><strong>ầ</strong><strong>n C</strong><strong>ả</strong><strong>i cách Ru</strong><strong>ộ</strong><strong>ng đ</strong><strong>ấ</strong><strong>t không?</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở Bắc và Trung, ruộng đất không tập trung quá nhiều vào tay một số người nhờ chế độ quân phân tài sản nên không có nhiều đại điền chủ. Trong lúc đó, ở trong Nam, vùng đất mới, kịp lúc Tây đến chiếm, nên có những người biết cách làm giàu với vài ngàn mẫu ruộng trở lên. Nhưng số đại điền chủ này không phải nhiều. Nhìn chung, chế độ ruộng đất ở việt nam từ thời quân chủ không quá bất bình đẳng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Về mặt quan chức, dưới thời quân chủ, người dân bình thường đều có quyền đi học và đi học không tốn kém. Khi thi đậu được nhà vua tuyển dụng làm quan. Tuy chịu ảnh hưởng văn hóa tàu, quan chức việt nam xuất thân từ thứ dân và khoa cử nên thường giữ nếp sống thanh liêm làm mẫu mực. Không có thứ quan phiệt vì ảnh hưởng lâu đời phong kiến như ở Tàu, nên cũng không có lớp cường hào ác bá ở địa phương xa, xách nhiễu thường xuyên dân chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi Pháp đến cai trị, một lớp tân học Việt Nam hấp thụ tinh thần khoa học và khai phóng khá đông làm mới xã hội Việt Nam. Hiện tượng mới này không phổ biến ở Tàu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước thực tế xã hội Việt Nam như vậy, thử nghĩ có cần thiết phải làm cuộc Cải cách Ruộng đất long trời lở đất hay không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hồ Chí Minh làm cuộc cải cách ruộng đất ở Miền Bắc từ năm 1953 không nhằm quân phân ruộng đất phục vụ nông dân, mà thực chất là nhằm tiêu diệt một thành phần quan trọng cũa xã hội, trong đó có cả đảng viên cộng sản gia nhập thời kháng chiến vì yêu nước, để thanh lọc xã hội, chuẩn bị cuộc cách mạng vô sản theo khuôn mẫu trung quốc. Do đó, Hồ Chí Minh đã “phóng tay phát động quần chúng nông dân đứng lên tố khổ và trị tội bọn địa chủ ác ôn ”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đến khi nhận thấy cải cách ruộng đất đã đạt mục tiêu, Hồ Chí Minh ban hành lệnh Sửa sai, đưa Hồ Viết Thắng và Trường Chinh qua chức vụ khác, đẩy Võ Nguyên Giáp ra công khai nhận lỗi trước nhân dân. Hồ Chí Minh xuất hiện và khóc cho nạn nhân của ông, chủ yếu để bảo vệ uy tín của đảng cộng sản của ông. Có dư luận cho rằng Trường Chinh vì lãnh đạo cuộc Cải cách Ruộng đất chấp nhận để cha mẹ bị đấu tố như những địa chủ khác. Xin nói rõ: không đúng. Trước khi phát động chiến dịch, theo nhà báo Bùi Tín, “Trường Chinh đã cho rước cha mẹ về Hà nội dấu một nơi an toàn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhưng đừng quên Cải cách Ruộng đất và Sửa sai là một chủ trương xuyên suốt theo chủ thuyết mao-trạch-đông đã áp dụng ở Tàu nhằm mục đích thật sự đẩy nông dân tay đẫm máu để phải theo đảng cộng sản luôn, không thể cấu kết với địa chủ chống đảng cộng sản và, mặt khác, lột bỏ tinh thần tư hữu vốn nặng và ăn sâu lâu đời trong nảo trạng nông dân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thực tế, không gì khác hơn là đảng cộng sản cướp sạch đất đai của nông dân bằng khủng bố.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày nay, đảng cộng sản hà nội vì không còn khả năng và ý chí làm cách mạng bằng bạo lực như trước nên bị nông dân trên cả nước đứng lên đòi đất đai đã bị đảng cướp từ trước giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thời cơ đang tới, hơn lúc nào hết, trước khi Việt nam có một chế độ dân chủ chính thống để truy tố đảng cộng sản ra trước công lý dân chủ, người nông dân từ Nam ra Bắc cần phải nắm chặt tay nhau, đứng lên đòi lại tài sản đã bị Đảng cộng sản cưỡng đoạt để tự mình làm lại cuộc Cải cách Ruộng đất cho chính mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Nguyễn văn Trần</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /><br />
</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Ghi chú:</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">* Ghi lại buổi nói chuyện về Cải Cách Ruộng đất với anh chị em “Đông Âu ” do Mạng Lưới Dân chủ tổ chức tại Berlin, 2005.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">** Tài liệu tham khảo:</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">-Hoàng văn Chí, Từ Thực dân đến Cộng sản, Pall Mall Press, 1964, London</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">-Pierre Brocheux, Hồ Chí Minh, từ nhà cách mạng đến thần tượng, Payot, 2003, Paris</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">-Loạt bài về Cải cách Ruộng đất trên Đài Á châu tự do</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">-Lâm Thanh Liêm, Chánh sách Ruộng Đất ỏ việt nam 1954-1995, Đường Mới, 1996, paris</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Etudes Vietnamiennes ( tập san Nghiên cứu việt nam), ngoại ngữ, 1965, Hà nội, số 7</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">*** Phụ bản</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>K</strong><strong>Ế</strong><strong>T QU</strong><strong>Ả</strong><strong> TAI H</strong><strong>Ạ</strong><strong>I</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi nhận viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Quốc, đảng CSVN phải thi hành chính sách “cải tạo xã hội chủ nghĩa” rập khuôn theo kiểu mẫu của Trung Quốc, điển hình nhất là chính sách cải cách ruộng đất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bộ “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000”, tập 2, (giai đoạn 1955-1975) do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, cho biết cuộc Cải Cách Ruộng Đất đợt 5 (1955-1956) được thực hiện ở 3.563 xã, với khoảng 10 triệu dân. Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5,68%. Các đội và các đoàn Cải Cách Ruộng Đất đều ra sức truy bức để cố đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như đã quy định. Như vậy tổng số người bị quy là “địa chủ” phải là trên 500.000 người. Cũng theo tài liệu này, có 172.008 người đã bị đấu tố, tức bị giết. Tuy nhiên, sau khi sửa sai và kiểm tra lại, Đảng và Nhà Nước nhận thấy trong số 172.008 nạn nhân của cuộc Cải Cách Ruộng Đất, có đến 123.266 người được coi là oan (chiếm đến 71,6%).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau đây là những con số cụ thể về các nạn nhân:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Địa chủ cường hào gian ác: 26.453 người, trong đó số được coi bị oan là 20.493 người (77,4%);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Địa chủ thường: 82.777 người, trong đó số được coi bị oan là 51.480 người (62,19%);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Địa chủ kháng chiến: 586 người, trong đó số được coi bị oan là 290 người (49,4%);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Phú nông: 62.192 người, trong đó số được coi bị oan là 51.003 người (82%).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi đảng CSVN không đi theo đường lối “cải tạo xã hội” của Mao Trạch Đông mà theo đường lối của Liên Sô, Trung Quốc đã “dạy cho Việt Nam một bài học”!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Lời bình của người không cộng sản và cộng sản phản tỉnh :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Qua các sự kiện lịch sử được công bố, các sử gia và các nhà phân tích đều đi đến kết luận rằng nếu năm 1945 đảng CSVN không đưa đất nước Việt Nam đi theo chủ nghĩa cộng sản, dùng dân tộc Việt Nam làm vật thí nghiệm cho một chủ nghĩa phiêu lưu, Việt Nam đã thoát khỏi một cuộc chiến kéo dài 30 năm với những hậu quả rất thảm khốc. Nếu không có đảng CSVN, nước Việt Nam đã có độc lập và tự do từ lâu rồi.</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/nhin-l%e1%ba%a1i-c%e1%ba%a3i-cach-ru%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-mi%e1%bb%81n-b%e1%ba%afc-va-c%e1%ba%a3i-cach-di%e1%bb%81n-d%e1%bb%8ba-mi%e1%bb%81n-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>VIDEO NHẠC VĂN PHỤNG</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/35158/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/35158/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 05:02:14 +0000</pubDate>
		<dc:creator>DaHa</dc:creator>
				<category><![CDATA[NHẠC CHỌN LỌC]]></category>
		<category><![CDATA[Nhạc Văn Phụng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35158</guid>
		<description><![CDATA[VIDEO NHẠC
VĂN PHỤNG 

Xin Bấm vào Hình Trên để có VIDEO
PhungTran42 has shared a video playlist with you on YouTube

Nhạc sĩ Văn Phụng
www.vietthuc.org


]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><span style="color: #800080;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: large;">VIDEO NHẠC</span></strong></span><br />
<span style="color: #008080; font-size: xx-large;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva;">VĂN PHỤNG </span></strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><a href="http://www.youtube.com/playlist?list=PL10ADD6BE164D6747" target="_blank"><img src="http://i2.ytimg.com/vi/E-eiRqcsEpA/default.jpg" alt="" width="319" height="304" /></a><br />
<span style="color: #800080;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Xin Bấm vào Hình Trên để có VIDEO</span></strong></span><br />
<span style="color: #808080;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><a href="http://www.youtube.com/user/PhungTran42?email=share_playlist_user" target="_blank">PhungTran42</a> has shared a video playlist with you on YouTube</span></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800080;"><strong></strong></span><img style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-ZFEB-3-VAN-PHUNG.jpg" alt="" width="300" height="398" /><br />
<strong><span style="font-family: verdana, geneva;">Nhạc sĩ Văn Phụng</span></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva;"><span style="font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /><br />
</span></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/35158/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ra Mắt Thi Tập Quốc Bảo Lưu Hương Ký</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/ra-m%e1%ba%aft-thi-t%e1%ba%adp-qu%e1%bb%91c-b%e1%ba%a3o-l%c6%b0u-h%c6%b0%c6%a1ng-ky/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/ra-m%e1%ba%aft-thi-t%e1%ba%adp-qu%e1%bb%91c-b%e1%ba%a3o-l%c6%b0u-h%c6%b0%c6%a1ng-ky/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 05:01:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyen Ngoc Bich</dc:creator>
				<category><![CDATA[BIÊN KHẢO VĂN HỌC]]></category>
		<category><![CDATA[Thi Tập Quốc Bảo Lưu Hương Ký]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35136</guid>
		<description><![CDATA[Ra Mắt Thi Tập Quốc Bảo
Lưu Hương Ký’

 

Lần đầu in, dịch, chú thích đầy đủ tập thơ Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương

 
 
 
 
 
 
 
 
 
Đứng trên ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;"><span style="color: #008080;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: x-large;"><img style="float: left; margin-left: 8px; margin-right: 8px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-84-JAN-8-NNBICH.jpg" alt="" width="80" height="119" />Ra Mắt Thi Tập Quốc Bảo<br />
Lưu Hương Ký’</span></strong></span></div>
<div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="color: #008080; font-size: small;"> </span></span></div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;"><br />
Lần đầu in, dịch, chú thích đầy đủ tập thơ Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 120px;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;"><a href="http://www.vietbao.com/images/upload/2012/2012-01/2012-01-31/NGUYEN_NGOC_BICH_T_H_Bich_Luu_Huong_Ky-large.jpg" target="_blank"><img src="http://www.vietbao.com/images/upload/2012/2012-01/2012-01-31/NGUYEN_NGOC_BICH_T_H_Bich_Luu_Huong_Ky-large-content.jpg" border="0" alt="" hspace="5" vspace="5" align="left" /></a></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 30px;"><span style="color: #000000;"> </span></p>
<p style="text-align: center; padding-left: 30px;"><span style="color: #000000;"> </span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 30px;"><span style="color: #000000;"> </span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 30px;"><span style="color: #000000;"> </span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 30px;"><span style="color: #000000;"> </span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 30px;"><span style="color: #000000;"> </span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="color: #000000;"> </span></p>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-size: small;"> </span></span></div>
<div><span style="color: #000000;"><span style="color: #008080;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"> </span></span></span></div>
<div style="padding-left: 120px;"><strong><span style="color: #000000;"><span style="color: #008080;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="font-size: small;">Đứng trên bục, bên phải là GS Nguyễn Ngọc Bích đang đưa trang sách ra; bên trái là GS Trần Huy Bích.</span></span></span></span></strong></div>
<div style="padding-left: 120px;"><strong><span style="color: #000000;"><span style="color: #008080;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="font-size: small;"><br />
</span></span></span></span></strong></div>
<div style="padding-left: 120px;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="color: #008080; font-size: small;"><span style="color: #000000;"><span style="color: #008080;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="font-size: small;"><a href="http://www.vietbao.com/images/upload/2012/2012-01/2012-01-31/Nguyen_Ngoc_Bich_Luu_Huong_Ky-large.jpg" target="_blank"><img src="http://www.vietbao.com/images/upload/2012/2012-01/2012-01-31/Nguyen_Ngoc_Bich_Luu_Huong_Ky-large-content.jpg" border="0" alt="" hspace="5" vspace="5" align="middle" /></a><br />
<strong>Hàng ghế đầu, từ phải, GS Nguyễn Tư Mô, nhà thơ Viên Linh, GS Trần Ngọc Ninh. Hàng ghế thứ nhì từ trái, nhà báo Huy  Phương, TS Nguyễn Bá Tùng, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện.</strong></span></span></span></span></span></span></div>
<p><span style="color: #000000;"><span style="color: #008080;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"> </span></span></span><span style="color: #000000;"><span style="color: #008080;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="font-size: small;"><strong> </strong></span></span></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">WESTMINSTER (VB) &#8212; Buổi ra mắt sách <em>Lưu Hương Ký</em> đã diễn ra sôi nổi  hôm Thứ Sáu 27-1-2012 tại hội trường Nhật Báo <em>Người Việt</em> với nhiều chi tiết mới về sự nghiệp văn học của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, người được Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích mệnh danh là ‘Bà Chúa Thơ Nôm.’</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Lưu Hương Ký là một tập thơ chữ Hán và chữ Nôm của Hồ Xuân Hương, bị ẩn kín trong gần 2 thế kỷ vì nhiều lý do lịch sử, và ngay cả khi được Giáo Sư Trần Thanh Mại giới thiệu hồi năm 1964 thì cũng chi mới đưa ra có 1/3 tác phẩm chưa xuất bản trươc đó của bà Hồ Xuân Hương, theo phân tích của GS Nguyễn Ngọc Bích.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">GS Bích nói rằng nữ sĩ họ Hồ đã nổi tiếng với dòng thi ca truyền khẩu nghịch ngợm mà ai cũng biết, nhưng vẫn còn một dòng thơ nghiêm túc hơn vẫn chưa được in ra hết &#8212; cho tới bây giờ, khi Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ ấn hành <em>Lưu Hương Ký</em>, một tập gồm hàng chục bài thơ chữ Hán và chữ Nôm của nữõ sĩ họ Hồ do GS Nguyễn Ngọc Bích phiêm âm và chú thích.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Tập Lưu Hương Ký có nhiều hơn những gì một nhà nghiên cứu văn học có thể mong đợi.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Bạn muốn đọc bài thơ tình “Cảm cựu kiêm trình Cần-chánh Học-sĩ Nguyễn-hầu” viết bằng Hán tự do bà Hồ Xuân Hương gửi tặng thi hào Nguyễn Du?</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Nếu chúng ta nhớ lại, chính Nguyễn Du trong một bài thơ chữ Hán nhan đề “Mộng Đắc Thái Liên” (Mơ Thấy Đi Hái Sen), nhà thơ Nguyễn Du đã gọi Hồ Xuân Hương là ‘lân nữ’ (cô thiếu nữ hàng xóm) và đã gọi nàng là mối tình ba năm cuối thế kỷ 18 với dòng thơ tuyệt vời “Cách hoa văn tiếu ngữ” (nghe tiếng nàng cười nói bên kia hoa).</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Giáo Sư Trần Huy Bích được mời lên giới thiệu, đã nói rằng một số học giả dè dặt nghi không phải thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, nhưng “tôi tin đây là tập thơ của Hồ Xuân Hương,” và Giáo Sư Trần Huy Bích nói rằng bản thân giáo sư là học trò của cụ  Cử Nguyễn Văn Tú, người tìm ra bản văn cổ trong tủ sách gia đình của cụ.”</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">GS Trần Huy Bích kể về những lý luận của GS Lê Văn Đặng nêu ra để nghi vấn rằng có thể không phải thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, và GS Trần Huy Bích giải thích từng chi tiết, nói về trình tự khám phá thi tập, về chuyện bảo vật quốc gia này bị PGS.TS.Đào Thái Tôn &#8211; cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm &#8212; giữ kín trong nhà hơn 4 thập niên.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;">GS Trần Huy Bích cũng nói về nỗ lực của GS Hoàng Xuân Hãn từ Pháp nhờ người dò tìm bản cổ văn, và cơ duyên phát lộ là khi GS Đaà Thái Tôn xin tiền chính phủ làm dự án nghiên cứu, và bị GS.TS Nguyễn Xuân Diện, Viện Phó Viện Hán Nôm, áp lưc5 phải nộp lại tập Lưu Hương Ký, vì tập thơ này là   ‘bảo vật quốc gia.’</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;">GS Trần Huy Bích nói rằng chính từ đó, GS Nguyễn Ngọc Bích mới xin phép qua Viện Việt Học  để phiên âm và chú thích.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;">Có bao nhiêu bài thơ trong thi tập  này?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;">GS Nguyễn Ngọc Bích cho biết, bản thảo viết tay chỉ có 22 trang giấy, nguyên được GS Trần Thanh Mại ghi là 52 bài thơ, trong đó có 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ chữ Nôm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;">Nhưng thực tế, GS Nguyễn Ngọc Bích nói rằng đếm kỹ thì chỉ có 15 bài thơ chữ Hán và 29 bài thơ chữ Nôm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;">GS Nguyễn Ngọc Bích cũng than phiền về tình hình nghiên cứu văn học quốc nội với quá nhiều lỗi sơ suất trong một tác phẩm nghiên cứu về Lưu Hương Ký của PGS-TS Hoàng Bích Ngọc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;">GS Nguyễn Ngọc Bích dẫn chứng rằng, riêng trong một bài “Thuật Ý Kiêm Trình Hữu Nhân Mai Sơn Phủ” (Dãi bày nỗi niềm gửi Mai Sơn Phủ), nhà nghiên cứu Hoàng Bích Ngọc đã phạm 72 chỗ, trong đó có chép sai tới 46 chỗ. Bài thơ chỉ có 268 chữ mà sai tới 72 lỗi, trong khi sách đó in năm 2003 tại Hà Nội chỉ với 300 ấn bản, chủ yếu để giành cho giới nghiên cứu và các học viện.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000000; font-size: medium;">GS Nguyễn Ngọc Bích đã phát ra cho khán  giả các bản copy bài thơ trên, với các khuyên đỏ ghi các lỗi chữ Hán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Nhưng có thật đây là tác phẩm thi ca của Hồ Xuân Hương?</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">GS Nguyễn Ngọc Bích cũng nói rằng, tại sao ngôn ngữ trong thi tập <em>Lưu Hương Ký</em> nhiều phần nghiêm túc, kể cả các bài thơ gửi tình nhân của bà, trong khi đó thơ truyền tụng của bà Hồ Xuân Hương lại thanh thanh tục tục, giỡn giỡn đùa đùa&#8230; GS nói rằng, khi một thiếu nữ trẻ làm thơ, tất nhiên là nghiêm túc, kể cả khi ngậm ngùi gửi cho mối tình đầu với thiên tài Nguyễn Du&#8230; và sau khi lớn tuổi bị đời vùi dập mấy phen làm vợ thứ, bấy giờ lão bà họ Hồ mới làm thơ nghịch ngợm, giễu đủ thứ mà chẳng sợ ai.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Trong cuộc phỏng vấn riêng giành cho Việt Báo, nhà thơ Viên Linh, chủ bút tập san văn học Khởi Hành, kể rằng trong một buổi thảo luận riêng, nhà thơ Viên Linh nói với GS Nguyễn Ngọc Bích rằng nhà thơ tin đó thực sự là thơ của bà Hồ Xuân Hương vì hai lý do:</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">1) Bản thảo viết tay chắc chắn là thủ bút của Hồ Xuân Hương, vì như khi viết chữ “phong tiêu tiêu” thì người viết đã viết tắt chữ ‘tiêu” thứ nhì &#8211; kiểu như chúng at bây giờ viết tắt bằng chữ “nt” (như trên).  Một số chỗ viết tắt tương tự cũng thấy trong Lưu Hương Ký. Nếu là thuê người khác chép, hay nếu là người đời chép lại, chắc chắn không dám viết tắt kiểu như thế. Vì chỉ có tác giả mới dám viết tắt như vậy.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">2) Ngôn ngữ nghịch ngợm của Hồ Xuân Hương cũng đã hiển lộ lấp lánh trong <em>Lưu Hương ký</em>. Thí dụ, ngày nay chưa ta ưa nói chữ ‘đào nhí’ để chỉ những cô tình nhân trẻ với chàng trai cao niên, thì trong một bài gửi Mai Sơn Phủ, nữ sĩ họ Hồ đã gọi chàng là ‘tình nhi&#8230;” (nghĩa là, kép trẻ). Ai làm thơ tuyệt vời như nữ sĩ họ Hồ, ai có nhiều môái tình với nhiều nhà thơ xuất sắc như  nữ sĩ họ Hồ vào thời đó&#8230;?</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Đặïc biệt, trong tập <em>Lưu Hương Ký</em>, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đã viết trong phần biên khảo về nhữõng mối tình của Hôà Xuân Hương, từ mối tình đầu với nhà thơ Nguyễn Du, tới những mối tình sau đó như với Tốn Phong Thị, Mai Sơn Phủ, Trần Quang Tĩnh, Trần Ngọc Quán, Trần Phúc Hiển&#8230;   với tham khaỏ từ các tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn, GS Trần Thanh Mại, Viện Khoa Học Xã Hội, và nhiền văn bản khác.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Trong buổi giới thiệu sách, có hiện diện của các nhà nghiên cứu và nghệ sĩ như Trần Ngọc Ninh, Nguyễn Tư Mô, Nguyễn Bá Tùng, Nguyễn Chí Thiện, Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Huy Phương, Viên Linh và nhiều viên chức viện Việt Học.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Độc giả muóán tìm mua, xin liên lạc Tổ Hợp Xuất Bản miền Đông Hoa Kỳ.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;">2607 Military Rd.<br />
</span><span style="font-family: verdana,geneva;">Arlington, VA 22207 &#8211; USA<br />
</span><span style="font-family: verdana,geneva;">Tel &amp; Fax: (703) 525-4538<br />
</span><span style="font-family: verdana,geneva;">Email: <a href="mailto:canhnam@dc.net">canhnam@dc.net</a>.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;"><br />
</span></span></p>
<table border="0" bgcolor="#e5e5e5">
<tbody>
<tr>
<td style="text-align: justify;" width="600"><strong style="color: #008080; font-family: verdana, geneva; font-size: x-large;">GS Nguyễn Ngọc Bích giới thiệu<br />
</strong><strong style="color: #008080; font-family: verdana, geneva; font-size: x-large;">Lưu Hương Ký<br />
</strong><strong style="color: #008080; font-family: verdana, geneva; font-size: x-large;">và Ảnh Trường Kịch Giới</strong></td>
</tr>
<tr>
<td><span style="font-size: x-small; font-family: verdana, geneva;"></p>
<p style="font-size: x-small; text-align: justify;"><strong style="font-size: medium; text-align: justify;">WESTMINSTER (NV)</strong><span style="font-size: medium; text-align: justify;"> &#8211; </span><strong style="font-size: medium; text-align: justify;">Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích có một buổi nói chuyện về hai tác phẩm “Lưu Hương Ký” và “Ảnh Trường Kịch Giới” vào lúc 7 giờ 30 tối Thứ Sáu tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">“Lưu Hương Ký” là tập thơ chữ Hán và chữ Nôm do nữ sĩ Hồ Xuân Hương viết ra cách đây gần 200 năm, và do Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích phiên âm và chú thích.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Còn “Ảnh Trường Kịch Giới” là của tác giả Hồ Trường An, nói về điện ảnh miền Nam Việt Nam từ khi mới bắt đầu hồi cuối thập niên 1930.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Cả hai tác phẩm “Lưu Hương Ký” và “Ảnh Trường Kịch Giới” đều do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ xuất bản.</span></p>
<table style="font-size: x-small;" align="center">
<tbody>
<tr>
<td style="padding-left: 120px;"><img src="http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/143814-DP-Bich-1_400.jpg" border="0" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td><span style="color: #008080; font-size: small;"><strong><em>Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích ký sách “Lưu Hương Ký” cho một độc giả trước buổi nói chuyện về tác phẩm của Hồ Xuân Hương. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)</em></strong></span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="font-size: x-small;"><span style="font-size: medium; text-align: justify;"><br />
Về “Lưu Hương Ký,” theo vị giáo sư này, “tác phẩm cũng cổ bằng Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhưng người ta mới tìm ra được cách đây chừng 60 năm.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Theo ông, “Lưu Hương Ký” là cách chơi chữ của Hồ Xuân Hương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Ông giải thích: “&#8217;Lưu&#8217; tức là để lại. Còn &#8216;Hương&#8217; có nghĩa là người phụ nữ tên Hương mà cũng có nghĩa để lại cái &#8216;hương.&#8217; &#8216;Ký&#8217; có nghĩa là tập bài thơ, lưu lại cho thế hệ sau này một chút hương thơm, của bà Hồ Xuân Hương.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">“Từ đó đến nay, cuốn sách được khai thác dần, nhưng mới được chừng 3/4 tổng số bài thơ,” Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích nói. “Nhưng lần này, tôi đã phiên âm ra được tất cả các bài thơ của Hồ Xuân Hương, gồm 44 bài thơ, gồm 15 bài chữ Hán và 29 bài chữ Nôm của bà. Trước giờ ai cũng biết bà là nhà thơ chữ Nôm, nhưng không ai biết bà còn là nhà thơ chữ Hán nữa. Trong &#8216;Lưu Hương Ký,&#8217; chúng ta sẽ thấy bà làm thơ chữ Hán rất hay.”</span></p>
<table style="font-size: x-small;" align="center">
<tbody>
<tr>
<td style="padding-left: 120px;"><img src="http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/143814-DP-Bich-2_400.jpg" border="0" alt="" /></td>
</tr>
<tr>
<td><span style="font-size: small; color: #008080;"><strong><em>Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích nói chuyện về tác phẩm “Lưu Hương Ký” tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)</em></strong></span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="font-size: x-small;"><span style="font-size: medium; text-align: justify;"><br />
Ông Bích cũng cho biết đây là lần đầu tiên, cả trong lẫn ngoài nước, có một cuốn sách phiên âm đầy đủ từ đầu đến cuối 44 bài thơ của Hồ Xuân Hương, có chú thích đầy đủ, bối cảnh, ghi lại “tất cả các cuộc tình lớn trong cuộc đời Hồ Xuân Hương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">“Có thể nói, nhờ quyển &#8216;Lưu Hương Ký&#8217; chúng ta mới biết các chi tiết này,” Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích nói.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">So với những công trình khảo cứu thơ Hồ Xuân Hương trước đây, “Lưu Hương Ký” có sự khác biệt rất nhiều.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">“Năm 2000, chính tôi có cho ra cuốn &#8216;Hồ Xuân Hương Tác Phẩm.&#8217; Cuốn đó chỉ liệt kê những bài thơ người ta gọi là truyền tụng, những bài thơ mà ai cũng biết, và cũng rất nổi tiếng,” ông Bích kể. “Bây giờ, 12 năm sau, tôi mới ra cuốn thơ chữ Hán của bà. Ở trong nước, họ cũng tìm đọc tập thơ này, nhưng lại diễn dịch nhiều chỗ sai quá.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tại buổi nói chuyện, giáo sư đưa ra một tờ giấy có chữ Hán với những chỗ gạch đỏ, và nói: “Ðây này, tôi đọc một bài trong nước diễn giải, chỉ có 268 chữ mà sai quá chừng, quý vị nhìn những chỗ gạch đỏ sẽ thấy.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">“Họ đọc sai, nên hiểu sai. Vì vậy, chúng ta cần phải có một cuốn sách tương đối vững vàng để người ta, gọi là, nhận diện chân mục, tức là bộ mặt thật của thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm trong thời kỳ sơ thời của Hồ Xuân Hương,” giáo sư này giải thích tiếp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Sau đó, ông Nguyễn Ngọc Bích đã phát cho người tham dự những tờ giấy này để tham chiếu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tại buổi nói chuyện, ông cũng đề cập đến lai lịch phát hiện thi phẩm “Lưu Hương Ký,” ông Trần Thanh Mại (người đầu tiên giới thiệu tác phẩm), những ngờ vực chung quanh tác phẩm, lịch sử khai thác cuốn “Lưu Hương Ký,” cụ Hoàng Xuân Hãn và tình sử Hồ Xuân Hương, và kết thúc một chặng đường nghiên cứu về “Lưu Hương Ký.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Nhân dịp này, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích cũng giới thiệu cuốn “Ảnh Trường Kịch Giới” của tác giả Hồ Trường An.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">“Trước hết, Hồ Trường An là một nhà văn có lối viết đặc sắc miền Nam, mà chúng ta gọi là &#8216;miệt vườn.&#8217; Ngoài ra, Hồ Trường An cũng là một nhà nghiên cứu, nghiên cứu nhà văn nữ, nghiên cứu những tiếng hát, tức là lịch sử âm nhạc Việt Nam. Riêng về cuốn này, anh viết về lịch sử điện ảnh miền Nam. Cuốn này chỉ dày 420 trang, nhưng ghi lại đầy đủ lịch sử điện ảnh là một chuyện chưa bao giờ có từ trước tới nay,” ông Bích giải thích.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Ông nói thêm: “Thông thường, khi nói về điện ảnh miền Nam, người ta chỉ viết được 10 hoặc 15 trang. Còn cuốn này, ngoài nội dung, chúng tôi còn đưa vào những hình ảnh xưa liên quan đến điện ảnh miền Nam, nói về các diễn viên nam nữ, đạo diễn, phim được đón nhận như thế nào và có các giải thưởng gì.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">“Khi xem cuốn này, chúng ta sẽ nhớ lại những phim nổi tiếng của miền Nam, như là &#8216;Chúng Tôi Muốn Sống,&#8217; &#8216;Hồi Chuông Thiên Mụ,&#8217; &#8216;Ðất Khổ,&#8217; và &#8216;Chiều Tím&#8217; cũng như nhiều phim khác nữa. Hồi thập niên 1970, miền Nam Việt Nam có rất nhiều phim, có khi tới cả trăm phim. Tất cả những sự kiện này đáng được coi là lịch sử. Từ trước tới nay chưa có ai làm chuyện viết lịch sử này, cho tới khi tác giả Hồ Trường An làm,” Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích cho biết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Tại buổi nói chuyện, một số nhân vật trong cộng đồng cũng như bạn bè của giáo sư cũng lên phát biểu và chia sẻ với ông và Tổ Hợp Xuất Bản Miền Ðông Hoa Kỳ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: medium;">Ðược biết, buổi nói chuyện của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích có sự bảo trợ của nhật báo Người Việt, nhật báo Việt Báo và Viện Việt Học.</span></p>
<p style="font-size: x-small;"><span style="font-size: large; color: #000080;"><strong><br />
Ðỗ Dzũng/Người Việt</strong></span></p>
<p></span></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000; font-size: medium;"><span style="font-family: verdana,geneva;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /><br />
</span></span></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/ra-m%e1%ba%aft-thi-t%e1%ba%adp-qu%e1%bb%91c-b%e1%ba%a3o-l%c6%b0u-h%c6%b0%c6%a1ng-ky/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đọc lại thơ Hồ Xuân Hương với cái nhìn nữ quyền luận</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/d%e1%bb%8dc-l%e1%ba%a1i-th%c6%a1-h%e1%bb%93-xuan-h%c6%b0%c6%a1ng-v%e1%bb%9bi-cai-nhin-n%e1%bb%af-quy%e1%bb%81n-lu%e1%ba%adn/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/d%e1%bb%8dc-l%e1%ba%a1i-th%c6%a1-h%e1%bb%93-xuan-h%c6%b0%c6%a1ng-v%e1%bb%9bi-cai-nhin-n%e1%bb%af-quy%e1%bb%81n-lu%e1%ba%adn/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Feb 2012 05:08:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyen Minh Triet</dc:creator>
				<category><![CDATA[BIÊN KHẢO VĂN HỌC]]></category>
		<category><![CDATA[TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT]]></category>
		<category><![CDATA[Hồ Xuân Hương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=34997</guid>
		<description><![CDATA[Đọc lại thơ
Hồ Xuân Hương
với cái nhìn 
nữ quyền luận

Hồ Xuân Hương là một độc đáo của nền văn học Việt Nam. Bao nhiêu giấy mực đã nói về bà. Hồ Xuân Hương một nhà ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #008080; font-size: xx-large;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva;"><img style="float: left; margin-left: 14px; margin-right: 14px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-84-JAN-7-CROP-22-HXH1.jpg" alt="" width="240" height="208" />Đọc lại thơ</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: xx-large; color: #008080;"><strong>Hồ Xuân Hương</strong></span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: xx-large; color: #008080;"><strong>với cái nhìn </strong></span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: xx-large; color: #008080;"><strong>nữ quyền luận</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><br />
Hồ Xuân Hương là một độc đáo của nền văn học Việt Nam. Bao nhiêu giấy mực đã nói về bà. Hồ Xuân Hương một nhà thơ dâm tục thấp hèn, một xúc phạm đến phẩm giá người phụ nữ, một thất vọng cho văn chương Việt Nam. Hồ Xuân Hương một nữ sĩ tài ba đã tiên phong và táo bạo làm những bài thơ vừa thanh vừa tục, những bài thơ dám đề cập đến một vấn đề cấm kỵ là tình yêu nhục thể. Tùy theo quan niệm về đạo đức xã hội mà Hồ Xuân Hương là người này hoặc người kia. Tuy nhiên, theo thời gian Hồ Xuân Hương đã trở thành một người đi trước thời đại mình, là người đã biết dùng thi tài một cách thông minh bằng những bài thơ độc đáo luôn luôn ẩn chứa hai nghĩa để chế diễu một giai cấp đạo đức giả, để vạch trần những vô lý của một xã hội phong kiến, cũng như táo bạo chống lại những tập tục phi lý đã cấm đoán và ràng buộc người phụ nữ Việt Nam về vật chất cũng như tinh thần vào cuối thế kỷ 18.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Theo Đào Duy Anh xã hội trong giai đoạn đó rất ư là bất công với người phụ nữ vì “trong gia đình, chủ quyền ở trong tay gia trưởng thì đàn bà tất là không có quyền gì cả. Khổng giáo chủ trương nam tôn nữ ty, trọng nam khinh nữ, lại vun đắp thêm quyền uy của gia trưởng mà đè nén địa vị của đàn bà.”[1] Nền văn học của chế độ phong kiến Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Khổng giáo nên các truyền thống về giá trị và chuẩn mực văn hóa đều được đặt ra để phục vụ cho phái nam. Nền văn học đó đồng thời cũng được dùng để khuyến dụ và cưỡng chế đàn bà phải chấp nhận vai trò thua kém đàn ông vì trời đã đặt định như vậy. Các áng văn chương nổi tiếng của Việt Nam trong thời phong kiến đầy dẫy những tư tưởng tiêu cực về đàn bà như: “Đau đớn thay phận đàn bà / lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” (Kiều), hoặc “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi / khách má hồng nhiều nổi truân chuyên” (<em>Chinh Ph</em><em>ụ Ngâm</em>), hoặc “Oán chi những khách tiêu phòng / mà xui phận bạc nằm trong má đào” (<em>Cung Oán Ngâm Khúc</em>). Ngoài ra còn nào Gia huấn ca, rồi tam cương, ngũ thường nữa cũng đều dạy cho đàn bà, con gái biết an phận với vai trò thứ yếu và phụ thuộc trong xã hội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trước một xã hội đầy những tư tưởng và nề nếp trọng nam khinh nữ do các nhà nho dựng lên đó, trước một xã hội bị bóp méo trong đó người nữ đã phải bị bắt buộc suy tư, và hành động Hồ Xuân Hương đã khôn khéo dùng văn chương như một thứ vũ khí để chống lại những trật tự áp chế đó. Vũ khí bà dùng là những bài thơ vừa thanh vừa tục. Đề cập đến một vấn đề hết sức cấm kỵ trong văn chương là vấn đề tính dục là một chuyện rất khó nói một cách có thẩm mỹ kể cả đối với các nhà văn nam giới, nhưng Hồ Xuân Hương đã tài tình và khéo léo dùng những cảnh hoặc hình ảnh rất bình thường như đền Trấn quốc, chùa Hương, đèo Ba dội, hang Cắc cớ, động Kẽm trống, ốc nhồi, con cua, trái mít, bánh trôi, đồng tiền, cái quạt&#8230; và những sinh hoạt hằng ngày như cảnh dệt vải, tát nước, đánh đu, đánh cờ&#8230; để tả những chuyện tình dục cấm kỵ một cách rất thoái mái với những ngôn từ rất đơn giản nhưng lại rất sống động và gợi hình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đọc thơ của Hồ Xuân Hương xin hãy đọc như những văn bản thuần túy. Và trong lãnh vực văn bản thuần túy không có vấn đề luân lý. Theo quan điểm của các học thuyết phê bình hậu cấu trúc mà đặc biệt là thuyết hủy tạo (<em>deconstruction</em>) của Derrida thì trong ngôn ngữ không có sự phân biệt giữa nghĩa đen và nghĩa bóng hay nghĩa thanh và nghĩa tục. Derrida nhìn thế giới chỉ gồm toàn văn bản được cấu tạo bởi những cặp biểu hiệu hệ cấp đối kháng như văn hóa và thiên nhiên, hành động và thụ động, mặt trời và mặt trăng, ngày và đêm, nói và viết, cha và mẹ&#8230; Những cặp từ tố đối kháng này đã cấu tạo nên những hệ thống tư tưởng và chi phối các đường lối chánh trị của các xã hội phương tây. Trong các cặp từ tố này từ tố đầu bao giờ cũng được gắn cho vị trí trội yếu so với từ tố sau. Và trong mỗi cặp từ tố một sự tranh đấu nội tại thường diễn ra không ngừng để dành ưu thế, nhưng bao giờ phía “hành động” cũng thắng phía “thụ động”, dương bao giờ cũng hơn âm. Trong việc tìm hiểu tác phẩm, theo Derrida chỉ có văn bản mới là đối tượng của nghiên cứu và trong văn bản chỉ có các biểu hiệu (<em>signifiers</em>) và các ý nghĩa được biểu hiện (<em>signifieds</em>). Ý nghĩa của ngôn ngữ nói riêng và ý nghĩa của văn bản nói chung tùy thuộc vào sự giải mã của người đọc. Trên quan điểm đó, Hồ Xuân Hương một cách kỳ lạ đã đi trước phong trào nữ quyền ở phương tây hàng trăm năm. Nhưng bà còn oanh liệt hơn các nữ lưu phương tây vì bà đã đơn thương độc mã đối đầu với cả một xã hội phong kiến đầy những nhà nho lúc nào cũng mang nặng trong đầu những ý tưởng về tam cương, ngũ thường và tam tòng, tứ đức rất bất lợi cho đàn bà.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tại phương tây giữa thế kỷ 20, Virginia Woolf một nhà tranh đấu nữ quyền Mỹ mới bắt đầu cổ võ phụ nữ hãy nói lên tiếng nói chống lại sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Và tại Pháp một tác giả nữ quyền khác là Hélène Cixous cũng cổ võ phụ nữ hãy viết văn, không những chỉ viết mà còn phải viết thật nhiều về phụ nữ, viết để đưa người phụ nữ bị xa cách, bị quên lãng, bị đứng ngoài rìa văn học trở lại với văn chương. Trong tiểu luận <em>Le Rire de la Méduse,</em> Cixous đã nồng nàn tha thiết mời gọi phụ nữ “phải viết để đặt người nữ vào văn bản, đồng thời cũng đề đặt người nữ vào thế giới và lịch sử”.[2] Hơn một trăm năm trước Hồ Xuân Hương của Việt Nam đã biết dùng văn chương để nói lên tiếng nói chống đối lại cái xã hội đã dành mọi đặc quyền cho nam giới. Không những chỉ viết mà Hồ Xuân Hương còn nói lên tiếng nói của phụ nữ một cách táo bạo và hiện thực. Giữa khi các văn thi sĩ nam giới mộng mơ lên thăm cung Hằng, mơ gặp tiên nữ ở Thiên thai hoặc tả những cảnh non nước hữu tình nhưng vô thưởng vô phạt thì Hồ Xuân Hương đã dùng chánh sự hiện thực của cuộc sống làm vũ khí để đả phá xã hội phụ quyền đương thời. Cuộc sống hiện thực là một sự phối hợp của hai yếu tố âm dương, tại sao lại chối bỏ hiện thực. Tình dục là một khía cạnh hiện thực thân thiết của con người và cuộc đời từ lâu đã bị bỏ quên trong văn chương. Hồ Xuân Hương bằng những bước chân táo bạo đã đem phô bày ra giữa ánh nắng khuyển nho các hành động và bộ phận có nhiệm vụ truyền giống của nam và nữ giúp cho nhân loại trường tồn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trước hết, Hồ Xuân Hương không chấp nhận sự coi trọng dương và khinh thường âm. Do đâu mà những gì liên quan đến dương thì được coi là đúng, là thanh, còn những gì dính dáng đến nữ là tục, là dơ bẩn. Cho nên, để chống lại quan niệm thanh/tục không chánh đáng đó Hồ Xuân Hương đã tuyên xưng các hình ảnh bị cấm kỵ trong các bài thơ của bà như một thách thức đối với nam giớiø. Trong hầu hết các bài thơ của Hồ Xuân Hương đều có ngụ ý tả cảnh làm tình, nói về cơ quan sinh dục nữ hoặc nam, đó là chưa kể đến những nhóm chữ nói lái cũng hàm ý nghĩa tính dục. Vậy thì chủ đề chánh của các bài thơ của Hồ Xuân Hương nằm ở nghĩa thanh hay nằm nơi nghĩa tục? Thanh hay tục là do nơi lòng người. Tục hay thanh cũng do nơi sự thanh lặng của tâm hồn. “Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?”. Hồ Xuân Hương đã khéo léo dùng sự tục thanh như một bức màn thưa để che mắt các nhà nho thủ cựu. Hồ Xuân Hương đã đánh lên một tiếng trống làm nhiều người bừng tỉnh cơn mê ngủ trong nền văn chương Hán Đường. Hồ Xuân Hương đã đem lửa thắp sáng cho nền văn học chữ Nôm. Nhưng cái tục của Hồ Xuân Hương không phải là cái dung tục hạ cấp mà là cái tục rất thanh, rất mỹ học, tuy nôm na nhưng không mách qué. Tất cả cái tục đó đều được bà hướng đến một mục tiêu rõ rệt là tôn vinh vai trò và vị trí người nữ trong xã hội để chống lại địa vị độc tôn của người nam đã được xã hội phong kiến thừa nhận một cách bất công.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Dù nhìn thơ của Hồ Xuân Hương theo ý hướng tục hay thanh đa số mọi người đều công nhận giống như Đào Duy Anh là văn chương của Hồ Xuân Hương rất “khinh bạc mà tài tình”.[3] Chỉ cần đọc lại bài thơ Đèo Ba Dội của Hồ Xuân Hương cũng đủ thấy tài làm thơ của bà. Nếu đứng về phương diện ý nghĩa thanh nhã mà so sánh bài thơ này với bài Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan vẫn được người đời ngợi khen thì bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan như là một bức hình đen trắng bằng phẳng còn bài Đèo Ba Dội như là một bức tranh nổi ba chiều sống động đầy màu sắc và âm thanh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Qua thơ văn của Hồ Xuân Hương ta thấy bà đãõ cho chuyện tính dục cũng bình thường và tự nhiên không có gì là cấm kỵ và xấu xa. Nếu xấu tại sao “hiền nhân quân tử ai mà chẳng / mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”. Hồ Xuân Hương với những câu thơ nôm mầu nhiệm, với một trái tim rực lửa đã đốt cháy mọi hành động giả đạo đức của xã hội phụ quyền. Nếu xấu tại sao những cảnh “cửa son đỏ loét tùm hum nóc” và cảnh “cầu trắng phau phau đôi ván ghép” lại có sức mạnh “lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại” và không những thứ dân mà cả vua chúa cũng “chúa dấu vua yêu một cái này”. Giáo sư Nguyễn Văn Hanh từ những thập niên 1930 đã đề cập đến “cái này” của Hồ Xuân Hương như sau: “cái mà người vô bịnh ưa hơn hết, phụng thờ hơn hết, phải nói rõ ưa và phụng thờ trong những lúc không có con mắt người thứ ba nào trông vào, trong những lúc “cấm ngoại thủy không ai được biết”.., nhưng nơi chỗ đông người, người ta vừa nghe nói đến thì đã vội vàng kêu la “bất nhã”, “tục”, vì thành kiến luân lý.”[4]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đúng là vì thành kiến mà xã hội phụ quyền đông cũng như tây đã chèn ép phụ nữ để phục vụ cho những lợi ích của nam giới. Ở phương tây Kate Millett với tác phẩm <em>Sexual Politics</em> ấn hành năm 1970 đã kịch liệt đả phá chế độ phụ quyền (<em>patriarchy</em>). Theo Millett ngoại trừ sự khác biệt nơi bộ phận sinh dục, đàn bà và đàn ông không khác gì nhau. Millet đã giận dữ đòi phải xóa bỏ định chế gia đình vì nó là một dụng cụ và là một đơn vị nền tảng của cơ chế phụ quyền. Millett còn kết án cơ chế phụ quyền đã dùng hình thức chánh trị phái tính (<em>sexual politics</em>) để duy trì sự thống trị đối với phụ nữ. Phụ quyền không chỉ là những phép tắc của người nam gia trưởng chi phối tất cả con cái trong gia đình mà còn là một định chế chánh trị của đàn ông dùng để đàn áp đàn bà. Theo Millett, cơ chế đàn áp phụ nữ có rễ thâm sâu trong xã hội loài người không phải là cơ chế tư bản mà là cơ chế phụ quyền dành ưu quyền cho đàn ông. Qua cơ chế phụ quyền phụ nữ bị thích nghi hóa với ý hệ nữ tính và phải chấp nhận vai trò thua kém đàn ông.[5]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trước Kate Millett rất lâu Hồ Xuân Hương ở trời đông cũng đã phẫn nộ với cơ chế phụ quyền và đã tỏ ra khinh bạc phái nam. Bà đã gọi họ bằng đủ thứ danh xưng đầy vẻ miệt thị như “phường lòi tói”, “lũ ngẩn ngơ”, “ong non ngứa nọc”, “dê cỏn buồn sừng”, &#8230; Qua kinh nghiệm thực tiễn bà biết có nhiều đấng “quân tử” rất dễ bị mê hoặc bởi “đôi gò Bồng đảo” hoặc “một lạch Đào nguyên” đến nỗi phải “mỏi mắt dòm “ rồi “dùng dằng đi chẳng dứt”. Cho nên trong mắt bà nhiều “quân tử” rất là nhỏ nhoi nên bà đã không ngại ngùng lên mặt xưng là “chị” với họ: “này này chị bảo cho mà biết&#8230;”, hoặc “lại đây cho chị dạy làm thơ&#8230;”. Trước mắt Hồ Xuân Hương cái giai cấp “quân tử”û mà xã hội Khổng giáo ưu ái dành cho nhiều ưu quyền so với phụ nữ thật ra không xứng đáng được có những thứ quyền như vậy. Giữa một xã hội phong kiến theo tư tưởngï nho giáo phân biệt rõ rệt giữa quân tử và tiểu nhân mà bà dám lớn tiếng ngạo mạn như vậy bà đúng là một nữ lưu tranh đấu đầy can trường.  John Balaban, người đã dịch thơ bà ra Anh ngữ, trong một bài viết về Hồ Xuân Hương đăng trên T<em>he American Review đ</em>ã nhận xét là những bài thơ chống đối phụ quyền của Hồ Xuân Hương đối với người phương tây cuối thế kỷ 20 có vẻ rất bình thường nhưng trong thời đại của bà là chuyện làm nguy hiểm và đã gây nên nhiều khích động lớn.[6]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Nguy hiểm hay không Hồ Xuân Hương vẫn không nương tay với cái xã hội đạo đức giả đó. Hồ Xuân Hương đã dùng chánh ngay “cái này” mà xã hội phụ quyền cho là “tục” tức là “cái đó” (<em>the other</em>) theo như Simone de Beauvoir đã gọi về sau này để làm vũ khí đánh vào cái thành trì luân lý trọng nam khinh nữ. Simone de Beauvoir hơn một trăm năm sau cũng nhận định phái nam là chủ thể trong xã hội phụ quyền, phái nam là tuyệt đối còn phụ nữ chỉ là một phái tính khác, một cái Đó (<em>the Other</em>) của đàn ông. Phụ nữ bị chối từ quyền làm chủ bản thể, và quyền ý thức trách nhiệm về hành động của mình. Theo Simone de Beauvoir nữ tánh đã ngăn trở phụ nữ được trở thành một bản thể độc lập. Do đó, bà kêu gọi phụ nữ phải biết giải phóng mình khỏi nữ tánh.[7] Hơn một trăm năm trước Hồ Xuân Hương qua những bài thơ táo bạo đã kêu gọi và đã tự giải phóng mình khỏi nữ tánh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Khi nói về nữ tánh nhà phân tâm học Freud cũng cho đàn bà là một thế giới huyền bí. Để trả lời người phụ nữ là gì Freud cho là phải căn cứ vào sự khác biệt tính dục và sự khác biệt tính dục được xác định bằng sự thấy (<em>visibility</em>). Sự thấy rõ ràng hiện thực là dương vật lồ lộ nơi người nam trong khi nơi người nữ thì cái hiện thực đó vắng bóng. Về phương diện tâm linh Freud nhận định sự khác biệt này là sự thiếu vắng, là sự mất mát của người nữ. Dù không biết gì về Freud nhưng một cách vô thức Hồ Xuân Hương đã biết chứng minh sự hiện hữu bằng cách đem trưng bày ngay cái cơ quan sinh dục “hơi thiếu” đó trước mắt các ông để nói lên sự hiện hữu của mình và của phái nữ. Giống như cụ Đoàn Quan Tấn trong lời tựa cho quyển sách của giáo sư Nguyễn Văn Hanh có nhận xét là “xã hội An nam, do theo văn minh Tàu, mãi chủ ý trao dồi tâm trí, nên thuở giờ ít biết cái đẹp thân xác của người như Âu Mỹ. Tại vậy mà luôn luôn phải che giấu, vì là xấu, dơ&#8230;”.[8] Ở phương tây từ xa xưa thân thể con người nói chung và thân hình phụ nữ nói riêng đã là đối tương cho nghệ thuật, đặc biệt là trong nghệ thuật tạc tượng, và là một biểu trưng cho cái đẹp vĩnh cửu. Sự hiện hữu của nét đẹp phái nữ đầy dẫy khắp nơi. Các viện bảo tàng, các công viên và dinh thự phương tây chứa đầy những tranh và tượng vệ nữ khỏa thân. Những bức tượng và tranh đã từng làm cho thi sĩ Bích Khê phải ca ngợi: “Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm, / Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm? / Nàng là hương hay nhan sắc lên hương? / Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường&#8230;”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Hồ Xuân Hương biết được giá trị của thân xác và “cái này” nên bà đã không ngần ngại đem vũ khí của phái nữ ra làm độc chiêu. Giống như các phong trào tranh đấu nữ quyền tại Mỹ, trong nhiều cuộc xuống đường các bà nhiều lúc đã đem phô trương vẻ đẹp của thân thể như một vũ khí tranh đấu, thì Hồ Xuân Hương đã không ngần ngại khoe rằng “thân em vừa trắng lại vừa tròn”, bà còn cho biết “da nó xù xì, múi nó dầy” hoặc tả một cách tỉ mỉ rõ ràng hơn “Cầu trắng phau phau đôi ván ghép / Nước trong leo lẻo mộât dòng thông / Cỏ gà lún phún leo quanh mép / Cá giếc le te lách giữa dòng&#8230;” hoặc “Chành ra ba góc da còn thiếu / Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa”&#8230;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Theo nhà văn nữ kiêm triết gia Pháp là Helen Cixous thì sự tương quan giữa phụ nữ và thân xác của họ đã ăn sâu trong văn hóa từ lâu đời. Ở người phụ nữ viếát và nói luôn đan kết với nhau thành một nên những sáng tạo của họ thường có liên hệ với thân xác vì khi viết cũng như nói phụ nữ vật thể hóa những điều suy nghĩ trong đầu, và biểu hiện nó với cả thân xác mình.[9] Điều nhận định này của triết gia Cixous cho thấy là Hồ Xuân Hương không phải là một trường hợp ngoại lệ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trước những lời thơ tả cảnh rất thẩm mỹ nhưng quá hiện thực của Hồ Xuân Hương làm sao mà những nhà nho đạo mạo không lớn tiếng kêu là phạm thuần phong mỹ tục. Nhưng khi “ngoại thủy không ai được biết” chắc không ít người trong bọn họ lại không lén lút thưởng thức những dòng thơ “mỹ miều” của Hồ Xuân Hương. Khi tả âm vật của nữ giới Hồ Xuân Hương đã dùng những lời đẹp đẽ mỹ miều bao nhiêu thì khi tả dương vật của nam giới bà lại dùng những lời kém văn hoa hơn, hoặc đầy mai mỉa như “một chút tẻo tèo teo”, “nào nón tu lờ, nào mũ thâm”, “đầu thì trọc lốc, áo không tà”, “đầu đội mũ da loe chóp đỏ / lưng đeo bị đạn rủ thao đen”&#8230; thì rõ rệt thâm ý của bà là muốn tôn vinh âm vật hơn dương vật cũng như trong sáng và đẹp đẽ hơn vì “quân thiếp trắng”, còn “quân chàng đen” đúa, xấu xí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Giống như Hồ Xuân Hương gần hai trăm năm sau một nữ triết gia người Pháp là Luce Irigaray cũngï đã dùng hình tượng âm vật trong việc nghiên cứu học thuyết nữ quyền. Irigaray so sánh diễn trình ngôn ngữ nữ giới với sự cấu trúc của bộ phận sinh dục phụ nữ. Bộ phận sinh dục này gồm có hai mép môi ôm liền nhau thể hiện sự liên tục và sự chối bỏ sự phân chia. Irigaray cho phụ nữ là sự nối tiếp với nhịp điệu của vũ trụ và thân xác của họ có sự liên hệ không thể chối cãi được với vạn vật.[10] Ngoài ra, trong khi đề cập đến vai trò của chiếc gương của Lacan trong việc nghiên cứu sự hình thành chủ thể tánh của người nữ, Irigaray cũng cho là không nên dùng chiếc gương phẳng vì chiếc gương phẳng chỉ phản chiếu được cơ quan sinh dục của phụ nữ như chỉ là một cái lỗ, hay nói cách khác chiếc gương phẳng không phản chiếu được những nét đặc trưng tính dục của phụ nữ. Theo Irigaray thay vì gương phẳng bà cho là nên dùng gương lõm vì gương lõm cho ta thấy sự vật dường như đảo lộn, gương lõm hội tụ ánh sáng vào một điểm và nhờ đó mà ánh sáng được chiếu rọi vào các bí mật của các hốc hố và xuyên thấu qua được những huyền bí của phụ nữ.[11]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Hồ Xuân Hương cũng nói về sự huyền bí của âm vật và của phụ nữ nhưng thay vì dùng những ý tưởng có tánh cách khoa học bà gọi nó một cách bình dân là “hang cắc cớ” và dùng lối gieo vần “om” độc hiểm và tối mò trong nhiều bài thơ của bà như: “Nứt làm hai mảnh hỏm hòm hom” hoặc “Con đường vô ngạn tối om om”&#8230; để nói lên sự huyền bí đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Ngoài ra, theo Hồ Xuân Hương vai trò của phụ nữ trong việc tạo nên âm dương hòa hợp theo đúng lẻ đạo của tạo hóa là một việc đáng tôn vinh. Chuyện chăn gối là chuyện tự nhiên của mọi giai từng xã hội, từ vua chúa đến dân gian ai mà không muốn “cho ta yếu dấu chẳng rời tay”, ai mà chẳng mong được “yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày” cho nên dầu “chồn chân mỏi gối hãy còn ham”. Sự trân trọng đó của phái nam đã một lần nữa xác nhận sự hiện hữu của phái nữ. Chuyện gối chăn là một hình ảnh phổ quát trong hầu hết các bài thơ của bà. Còn hình ảnh nào đẹp đẽ bằng cảnh trai thanh gái lịch “đánh đu” vui sướng ngày lễ hội: “Trai co gối hạc khom khom cật / Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng / Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới / Hai hàng chân ngọc duỗi song song&#8230;”. Còn hình ảnh nào hấp dẫn cho bằng cảnh người lao động “dệt vải” miệt mài đêm hôm khuya khoắt: “Hai chân đạp xuống năng năng nhắc / Một suốt đâm ngang thích thích mau&#8230;”. Còn hình ảnh nào sống động bằng cảnh người nông dân “tát nước khe” với nét đẹp “nước lộn trời” giữa thiên nhiên: “Xì xòm đáy nước mình nghiêng ngửa / Nhấp nhỏm bên bờ đít vắt ve&#8230;”. Còn hình ảnh nào nóng bỏng bằng cảnh tao nhân mặc khách tìm vui trong những cuộc “đánh cờ” nơi thâm cung: “Thoạt mới vào, chàng liền nhảy ngựa / Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên / Hai xe hà, chàng gác hai bên / Thiếp sợ bí, thiếp liền ghểnh sĩ&#8230;” và còn nhiều hình ảnh ở các từng lớp khác nữa, từ cô hàng bán sách, bà lang đến các quan thị và các nhà sư hổ mang còn nặng lòng trần cũng không thoát khỏi nhu cầu tìm “cực lạc là đây, chín rõ mười” đó. Sự thực đó hiển nhiên như cơm để ăn, không khí để thở có gì đâu mà phải cấm kỵ đến nỗi văn chương không được phép đề cập đến. Những bước chân táo bạo của Hồ Xuân Hương vào cuối thế kỷ 18 mãi đến đầu thế kỷ 20 các nhà văn phương tây như D.H. Lawrence chẳng hạn mới dám diễn tả đến trong một tác phẩm rất được truyền tụng là Lady Chatterley’s Lover.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Chuyện chăn gối theo Hồ Xuân Hương không những giúp cho âm dương hòa hợp mà còn là một nghĩa vụ nặng nề của người nữ giúp người nam vượt qua những khó khăn của cuộc đời như chiếc quạt đã làm “mát mặt anh hùng khi tắt gió”, hoặc giúp “che đầu quân tử lúc sa mưa”. Nghĩa vụ đó đáng được trọng vọng ngang hàng nghĩa vụ của phái nam. Đó là nghĩa vụ vừa làm vợ vừa làm mẹ “thân cò lặn lội bờ sông”, vừa thỏa mãn chồng vừa ru dỗ con thơ: ”bố cu lổm ngổm bò trên bụng / thằng bé hu hơ khóc dưới hong”. Còn hình ảnh nào sống động hơn để vẻ nên vai trò nặng nề đó của người đàn bà.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Nhưng có thể còn hơn thế nữa, Hồ Xuân Hương qua bài thơ “Kẽm Trống” đã một cách tinh tế tả cảnh “vượt cạn” của phụ nữ đồng thời nói lên nghĩa vụ cao cả của đàn bà là sanh ra trẻ con, một nghĩa vụ hơn hẳn đàn ông vì đàn ông không thể làm được. Bài thơ “Kẽm Trống” mới đọc qua chỉ như là một bài thơ tả cảnh nhưng với một người khinh bạc và hay dùng chữ hai nghĩa cũng như thường hay nói lái như Hồ Xuân Hương, ta phải tìm hiểu ý nghĩa bài thơ này một cách cặn kẽ hơn.[12]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trước hết, trong bài thơ này có rất nhiều từ liên quan đến nước như: “sông”, “sóng”, “sóng dồn”, “nước”, “vỗ”, “nước vỗ”, “long bong”, “thùng” &#8230; Trong chỉ có 56 chữ của bài thơ mà Hồ Xuân Hương đã dùng đến 9 từ liên quan đến nước. Có phải chăng bà đã nghĩ đến cái mà sau này Helene Cixous thường nhắc tới trong <em>Le Rire de la Méduse</em> là hình ảnh nước đại dương. Có phải chăng Hồ Xuân Hương cũng giống như Cixous đã dùng đến hình ảnh nước để ám chỉ nước trong bào thai bụng mẹ.[13]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Ngoài ra, trong bài thơ Kẽm Trống còn có một số các từ đáng chú ý khác là: “trống”, “hang”, “hẹp”, “ra khỏi”, “rộng thùng”, “qua cửa mình (ơi)”, “nỗi bưng bồng”&#8230; Chữ trống cho ta liên tưởng đến bụng bầu của người đàn bà sắp đến ngày sanh nở và ngay câu mở đầu “hai bên thì núi, giữa thì sông” cho ta thấy cảnh người sản phụ đang nằm trong tư thế sẵn sàng sanh con. Các nhóm từ khác như qua cửa mình, hang, hẹp, ra khỏi, rộng thùng cộng với ý tưởng nước trong bào thai bụng mẹ vừa dẫn giải ở trên cho ta hình dung đến cảnh tượng như sau: đứa bé từ trong bụng to như cái trống xuôi theo đường âm hộ nhỏ hẹp nhờ nước tràn ra từ bào thai để rồi sau đó vượt ra khỏi cửa mình của mẹ để vào một thế giới không gian rộng thùng và được tiếp nhận bồng ẩm bởi người thân..</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Hồ Xuân Hương qua ẩn ý của bài thơ này muốn cho người đàn ông thấy là đàn bà có một nhiệm vụ rất là thiêng liêng, cao cả hơn hẳn đàn ông là nhiệm vụ sanh con và sanh ra sự sống. Thêm vào đó, trong hai câu kết “qua cửa mình ơi, nên ngắm lại / nào ai có biết nỗi bưng bồng ” Hồ Xuân Hương còn muốn nhắn gởi chung phái nam hãy “ngắm lại” mình để nhớ là tất cả đàn ông đều đã đi qua “cái cửa đó”ù cũng như đừng quên ”nỗi bưng bồng” khổ nhọc của mẹ hay người nữ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Khi chống lại trật tự xã hội phụ quyền, Hồ Xuân Hương muốn kêu gọi thiết lập một trật tư xã hội mới trong đó không còn những cảnh phân biệt đối xử: “kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn / đủ đồng ắt hẳn đóng nên quan”. Đặc biệt bà đã ngang nhiên chống lại thành kiến xã hội ruồng bỏ người phụ nữ chửa hoang: “quản bao miệng thế lời chênh lệch / những kẻ không mà có mới ngoan”. Trật tự xã hội mới mà bà mong muốn là một trật tự trong đó phụ nữ nói riêng và mọi người nói chung phải được bình đẳng, không còn phải chịu cảnh “cầm bằng làm mướn, mướn không công” nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Hồ Xuân Hương đã đặc biệt chống đối kịch liệt chế độ đa thê của xã hội đương thời. Với kinh nghiệm bản thân sau hai lần lập gia đình với Tổng Cóc và ông phủ Vĩnh Tường bà thấy rõ chế độ đa thê rất phổ biến trong xã hội phong kiến là một sự bất công của xã hội phụ quyền. Đàn ông thì năm thê, bảy thiếp trong khi đó đàn bà phải chính chuyên một chồng. Cho nên thân phận người đàn bà, đặïc biệt là các tì thiếp thì thật đáng thương chẳng khác gì một thứ nô lệ hay một thứ dụng cụ cho đàn ông. Tuy mang tiếng là vợ nhưng về phương diện sinh lý bình thường người làm thiếp cũng không được quyền đòi hỏi: “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng / năm khi mười họa, nên chăng chớ / một tháng đôi lần, có cũng không”. Tuy vậy, làm thiếp vẫn còn đỡ hơn các phụ nữ chẳng may phải lâm vào cảnh: “cán cân tạo hóa rơi đâu mất” khiến cho “cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không” thì ô hô “miệng túi càn khôn” đành phải khép lại cả đời vì xã hội phụ quyền không chấp nhận cho đàn bà được đi bước nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Sự chống đối của Hồ Xuân Hương có vẻ như không tích cực như các thế hệ phụ nữ của phương tây sau này đã đòi hỏi phụ nữ phải được giải phóng sinh lý. Nhưng giữa một xã hội phong kiến của nho gia với bao nhiêu là chèn ép về tinh thần lẫn vật thể thì chỉ một sự chỉ trích một cách táo bạo như ta vừa thấy đã là một hành động quá tích cực rồi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trước những trói buộc của xã hội, nhiều lúc bà cũng mơ được thoát ra khỏi các tập tục, các lễ giáo, và các ý hệ phong kiến khắc nghiệt để làm nên nhiều sự nghiệp lẫy lừng hơn: “ví đây đổi phận làm trai được / thì sự anh hùng há bấy nhiêu” và có lúc bà cũng muốn “dơ tay với thử trời cao thấp / xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài”. Nhưng sức người có hạn mà ước lệ xã hội khắc khe đã có từ ngàn đời nên bà chỉ đành trăn trở trong đêm khuya mà than cho thân phận: “canh khuya văng vẳng trống canh dồn/ trơ cái hồng nhan với nước non”. Tuy cũng than vãn khi lẻ loi cô độc lúc đêm khuya thanh vắng, nhưng bên ngoài bà là một người nhiều nghị lực: “thân này đâu đã chịu già tom” và bà thường hay kêu gọi phụ nữ khác (hay bà tự nhủ mình) là chớ có khóc than mà phải luôn vùng lên tranh đấu: “nín đi kẻo thẹn với non sông”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đúng là không thẹn với non sông, tên tuổi Hồ Xuân Hương và thơ của bà đã vượt thời gian và không gian nhỏ hẹp của Việt Nam đi vào thế giới văn chương toàn cầu. John Balaban là một giáo sư tại Viện Đại học North Carolina và là một nhà thơ nổi tiếng đã từng đoạt các giải thưởng về thơ xuất sắc của Viện Hàn Lâm Các Thi sĩ Hoa Kỳ có một lần lạc đến Việt Nam và lạc vào vườn thơ của Hồ Xuân Hương. Khách lãng du đã bị mê hoặc bởi “hương xuân” đến nỗi phải bỏ ra bao công sức trong nhiều năm trời để dịch thơ Hồ Xuân Hương ra tiếng Mỹ và xuất bản thành sách với nhan đề là <em>Spring Essence: The Poetry of Ho Xuan Huong</em> để giới thiệu với độc giả phương Tây.[14]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Nhờ đó mà “hương xuân” của nền văn chương Đại Việt đã bay tỏa ngào ngạt nơi trời tây khiến nguyên Tổng thống Hoa kỳ Bill Clinton trong bữa quốc tiệc tại Hà-nội nhân chuyến viếng thăm Việt Nam vào tháng 11 năm 2000 đã phải nhận xét là “Sự toàn cầu hóa đang đem thế giới lại gần Việt Nam cũng như đem Việt Nam lại gần với thế giới&#8230; Những bài thơ từ 200 năm trước của Hồ Xuân Hương đã được ấn hành tại Mỹ—bằng tiếng Anh, bằng tiếng Việt, và cả bằng chữ Nôm nữa, đây là lần đầu tiên lối chữ cổ của Việt Nam đã được thực hiện bằng in ấn. (<em>&#8220;Globalization is bringing the world to Vietnam and also bringing Vietnam to the world&#8230; The 200-year-old poems of Ho Xuan Huong are published in America&#8211;in English, in Vietnamese, and even in the original Nôm, the first time ancient Vietnamese script has come off a printing press.&#8221;</em>).[15]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Hai tờ báo Mỹ chuyên về thơ là <em>The American Poetry Review</em> số ra tháng 9 và 10 năm 2000 (volume 29, số 5)[16] và <em>Poetry Daily Review</em> cũng có đăng bài viết về bà và ý kiến của độc giả về thơ của Hồ Xuân Hương sau khi đọc quyển sách của John Balaban.[17] Hãy nghe một độc giả của <em>Poetry Daily Review</em> là G. Merritt đã say mê thơ Hồ Xuân Hương ra sao: “Bộ sưu tập (thơ) đầy gợi cảm này làm tôi hi vọng còn thêm nữa. Điều thất vọng duy nhứt của tôi là khi biết rằng mấy trăm trang sách này đã thể hiện gần hết thơ của Hồ Xuân Hương. Quyển sách mỏng này thật là sáng chói”. (<em>“This sensually-rich collection left me hoping for more. My only disappointment was learning that these hundred pages represent &#8220;most of Xuan Huong&#8217;s extant poetry&#8221;. This thin book shines brightly.”</em>)[18]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Không những độc giả mà cả các tác giả tăm tiếng cũng ca ngợi thơ của bà. Neil Sheehan,tác giả quyển sách nói về Việt Nam, A Bright Shining Lie, đã nhận xét “Bà là người đàn bà, ngoài tài ba về văn chương còn có được đức tánh can trường ViệtNam, và dám thách thức các ước lệ đương thời”. (“<em>She was a woman who possessed, along with her literary talent, that great Vietnamese virtue of courage, and dared to defy the conventions of her time</em>&#8220;). Frances Fitzgerald, tác giả một quyển sách viết về Việt Nam khác là <em>Fire in the Lake</em> cũng đã ghi nhận: &#8220;Qua cách dịch của John Balaban, thơ của Hồ Xuân Hương vừa dí dỏm, vừa chua cay, và sâu sắc đáng được có một chỗ đứng trong nền văn chương thế giới. Tôi thích tưởng tượng cảnh tác giả các bài thơ đó, cô gái hư của thế kỷ 18 ở Việt Nam, phóng những mũi tên đầy khiêu gợi vào thái độ đạo đức giả về giới tánh của mọi lứa tuổi và mọi nhóm văn hóa” (“<em>In John Balaban&#8217;s translation, the poetry of Ho Xuan Huong—witty, caustic, and profound should find its place in world literature. I like to imagine its author, the brilliant bad girl of eighteenth century Vietnam, throwing her erotically charged darts into the sexual hypocrisy of all ages and cultures&#8221;</em>). Tạp chí Utne Reader thì quả quyết hơn cho: “Hồ Xuân Hương rõ rệt là một thi sĩ xuất sắc nhứt từ trước tới nay&#8221; (“Ho Xuan Huong was, simply, one of the most remarkable poets who ever lived&#8221;).[19] Còn đối với Philip Gambone của tạp chí <em>New York Times Book Review</em> thì Hồ Xuân Hương là một trong những thi sĩ vĩ đại của Việt Nam.[20]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Hồ Xuân Hương không những được sách vở và báo chí phương tây tôn vinh mà cả các đài phát thanh cũng góp lời ca ngợi. Cơ sở phát thanh National Public Radio ở Washington, DC (NPR), một đài nổi tiếng về các chương trình thông tin văn hóa phục vụ 16 triệu thính giả với 640 đài và hệ thống internet đã giới thiệu thơ của Hồ Xuân Hương trong buổi phát thanh ngày 12 tháng 11 năm 2000.[21] Đài phát thanh New Hampshire Public Radio (NHPR) trong buổi phát thanh ngày 8 tháng 7 năm 2001, phóng viên Kevin Gardner cho “bà đã thành công như là một thi sĩ phái nữ trong một thời đại văn học ngự trị bởi phái nam. Bà đã làm thơ bằng ngôn ngữ thông thường của quần chúng thay vì dùng chữ Hán thông thái của giai cấp trí thức Việt Nam, nhưng lại được cả hai giới nông dân và quan lại mê thích. Thơ bà thách thức những ước lệ xã hội và tính dục trong một thời đại mà sự phản kháng như vậy bị coi là cấm kỵ, tuy nhiên thơ bà không những được khoan hồng mà còn được tán dương bởi những người cầm quyền. Địa vị trí thức như một thi sĩ hàng đầu của bà được truyền tụng như huyền thoại&#8230;” (S<em>he triumphed as a female poet in a literary age overwhelmingly dominated by men. She wrote in the language of the common people rather than the scholarly Chinese of Vietnam’s elite class, yet appealed equally to peasants and mandarins. Her poetry defied social and sexual convention at a time when such dissent was taboo, yet she was not only tolerated, but celebrated, by those in power. Her intellectual standing as a poet of the first rank was legendary&#8230;</em>)[22]</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tóm lại, Hồ Xuân Hương là một nữ lưu tiền phong, là một thiên tài có cá tánh độc đáo có một không hai trong nền văn học Việt Nam. Bà đã tiên phong nói lên tiếng nói của phụ nữ chống lại sự áp bức của cơ chế phụ quyền. Hồ Xuân Hương người đầu tiên dám dùng thơ văn để tôn vinh một vấn đề hết sức cấm kỵ trong văn chương là tính dục một cách đầy giá trị mỹ học. Lịch sử đã chứng tỏ sự phản kháng và cảm thông của bà về thân phận của phụ nữ là con đường chánh đáng. Bà đã đi những bước thật dài trước thời đại của bà và tiếng nói của bà đã làm bao nhiêu tâm hồn phải thổn thức. Tiếng nói thơ văn của Hồ Xuân Hương đã vượt không gian và thời gian để nối kết nền văn học Việt Nam với toàn cầu và làm hãnh diện cho văn thơ Việt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: large; color: #000080;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva;">Nguyễn Minh Triết</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: large; color: #000080;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /><br />
</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">_________________________</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[1]Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương (Houston: Xuân Thu) tr.109.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[2]Trích dẫn bởi Mary Eagleton, Feminist Leterary Theory: A Reader (UK, Oxford: Basil Blackwell, 1986) tr.225.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[3]Đào Duy Anh, sđd, tr.274.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[4]Nguyễn Văn Hanh, Hồ Xuân Hương: Tác Phẩm, Thân Thế và Văn Tài (California: Cơ sở xuất bản Đại Nam, in lần thứ ba) tr.13.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[5]Sue Thornham, Feminist Theory and Cultural Studies (London: Arnold, 2000) tr. 50-51.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[6]John Balaban, “About Ho Xuan Huong”, The American Poetry Review, Sept/Oct 2000, vol.29, no.5.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[7]Eva Martin Sartoti, Editor-in-Chief, The Feminist Encyclopedia of French Literature (Westport, Conn.:Greenwood Press, 1999).</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[8]Nguyễn Văn Hanh, sđd, tr.8.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[9]Toril Moi, Sexual/Textual Politics (London and New York: Methuen, 1985) tr.114.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[10]Janet Todd, Feminist Literary History (New York: Rouledge, 1988) tr.58</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[11]Madan Sarup, An Introductory Guide to Post-Structuralism and Post-Modernism (Athens: The University of Georgia Press, 2nd ed., 1993) tr. 28-29.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[12]“Kẽm Trống”: Hai bên thì núi giữa thì sông,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">Có phải đây là Kẽm Trống không?</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">Gió đập cành cây khua lắc cắc,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">Sóng dồn mặt nước vỗ long bong.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">Ở trong hang đá hơi còn hẹp,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">Ra khỏi đầu non đã rộng thùng.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">Nào ai có biết nỗi bưng bồng.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[13]Toril Moi, sđd, tr. 116-117.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[14]John Balaban, Spring Essence: <em>The Poetry of Ho Xuan Huong</em> (Port Townsend, WA: Copper Canyon, 2000).</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[15]www.bhny.com</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[16]www.aprweb.org/issues/sept00/huong.html</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[17]www.poems.com/sprinbal.html</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[18]shop.barnesandnoble.com</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[19]như trên</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[20]Philip Gambone, “Poet and Concubine”, in New York Times Book Review, www.nytimes.com</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[21]Search.npr.org/cf/cmn/cmnps05fm.cfm</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;">[22]www.nhpr.org</span></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/d%e1%bb%8dc-l%e1%ba%a1i-th%c6%a1-h%e1%bb%93-xuan-h%c6%b0%c6%a1ng-v%e1%bb%9bi-cai-nhin-n%e1%bb%af-quy%e1%bb%81n-lu%e1%ba%adn/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hành Sử Quyền Đối Lập Để Hình Thành Đối Lập ở Việt Nam</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/hanh-s%e1%bb%ad-quy%e1%bb%81n-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-d%e1%bb%83-hinh-thanh-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/hanh-s%e1%bb%ad-quy%e1%bb%81n-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-d%e1%bb%83-hinh-thanh-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Feb 2012 05:07:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>LS. Tran Thanh Hiep</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT]]></category>
		<category><![CDATA[Hành Sử Quyền Đối Lập]]></category>
		<category><![CDATA[Hình Thành Đối Lập ở Việt Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35013</guid>
		<description><![CDATA[Hành Sử Quyền Đối Lập 
Để Hình Thành 
Đối Lập ở Việt Nam
Cuộc cách mạng dân chủ đã và đang diễn ra ở Bắc Phi và Trung Đông có thể coi như là đợt sóng ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: x-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;"><img style="float: left; margin-left: 14px; margin-right: 14px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/11/VTT-57-MAY-14-MANDALA-28.jpg" alt="" width="240" height="248" />Hành Sử Quyền Đối Lập </span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: x-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Để Hình Thành </span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: x-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Đối Lập ở Việt Nam</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>Cu</em><em>ộ</em><em>c cách m</em><em>ạ</em><em>ng dân ch</em><em>ủ</em><em> đã và đang di</em><em>ễ</em><em>n ra </em><em>ở</em><em> B</em><em>ắ</em><em>c Phi và Trung Đông có th</em><em>ể</em><em> coi nh</em><em>ư</em><em> là đ</em><em>ợ</em><em>t sóng dân ch</em><em>ủ</em><em> hóa th</em><em>ứ</em><em> ba c</em><em>ủ</em><em>a nhân lo</em><em>ạ</em><em>i k</em><em>ể</em><em> t</em><em>ừ</em><em> cu</em><em>ố</em><em>i th</em><em>ế</em><em> k</em><em>ỷ</em><em> XX và đ</em><em>ầ</em><em>u th</em><em>ế</em><em> k</em><em>ỷ</em><em> XXI. Đ</em><em>ợ</em><em>t sóng này đã đánh d</em><em>ấ</em><em>u m</em><em>ộ</em><em>t ch</em><em>ặ</em><em>ng đ</em><em>ườ</em><em>ng m</em><em>ớ</em><em>i c</em><em>ủ</em><em>a s</em><em>ự</em><em> nghi</em><em>ệ</em><em>p c</em><em>ủ</em><em>a nhân lo</em><em>ạ</em><em>i xây d</em><em>ự</em><em>ng và hoàn </em><em>thi</em><em>ệ</em><em>n th</em><em>ể</em><em> ch</em><em>ế</em><em> dân ch</em><em>ủ</em><em> kh</em><em>ở</em><em>i đ</em><em>ầ</em><em>u t</em><em>ừ</em><em> th</em><em>ế</em><em> k</em><em>ỷ</em><em> th</em><em>ứ</em><em> V tr</em><em>ướ</em><em>c Công Nguyên. Đ</em><em>ồ</em><em>ng th</em><em>ờ</em><em>i nó còn mang đ</em><em>ế</em><em>n cho nh</em><em>ữ</em><em>ng t</em><em>ậ</em><em>p th</em><em>ể</em><em> ng</em><em>ườ</em><em>i vào đ</em><em>ầ</em><em>u thiên niên k</em><em>ỷ</em><em> th</em><em>ứ</em><em> ba r</em><em>ồ</em><em>i – mà v</em><em>ẫ</em><em>n còn ph</em><em>ả</em><em>i mang ách đ</em><em>ộ</em><em>c tài – nh</em><em>ữ</em><em>ng s</em><em>ự</em><em> h</em><em>ỗ</em><em> tr</em><em>ợ</em><em> thi</em><em>ế</em><em>t y</em><em>ế</em><em>u c</em><em>ả</em><em> v</em><em>ề</em><em> ba m</em><em>ặ</em><em>t chính tr</em><em>ị</em><em>, pháp lý và quân s</em><em>ự</em><em> đ</em><em>ể</em><em> b</em><em>ẻ</em><em> gãy gông cùm c</em><em>ủ</em><em>a nh</em><em>ữ</em><em>ng th</em><em>ế</em><em> l</em><em>ự</em><em>c c</em><em>ầ</em><em>m quy</em><em>ề</em><em>n ph</em><em>ả</em><em>n dân ch</em><em>ủ</em><em>. S</em><em>ớ</em><em>m hay mu</em><em>ộ</em><em>n thì gió xuân B</em><em>ắ</em><em>c Phi Trung Đông cũng s</em><em>ẽ</em><em> th</em><em>ổ</em><em>i đ</em><em>ế</em><em>n Vi</em><em>ệ</em><em>t Nam vì dân ch</em><em>ủ</em><em> là xu th</em><em>ế</em><em> c</em><em>ủ</em><em>a th</em><em>ờ</em><em>i đ</em><em>ạ</em><em>i. Nh</em><em>ư</em><em>ng chính ng</em><em>ườ</em><em>i dân Vi</em><em>ệ</em><em>t Nam ph</em><em>ả</em><em>i ch</em><em>ứ</em><em>ng t</em><em>ỏ</em><em> có đ</em><em>ủ</em><em> ý chí và kh</em><em>ả</em><em> năng đánh b</em><em>ạ</em><em>i đ</em><em>ộ</em><em>c tài đ</em><em>ể</em><em> đ</em><em>ặ</em><em>t n</em><em>ề</em><em>n móng cho ki</em><em>ế</em><em>n trúc dân ch</em><em>ủ</em><em>.</em><em> <span style="color: #333333;"><strong>Do đó nay đã đ</strong></span></em><span style="color: #333333;"><strong><em>ế</em></strong><strong><em>n lúc m</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em>t l</em></strong><strong><em>ự</em></strong><strong><em>c l</em></strong><strong><em>ượ</em></strong><strong><em>ng đ</em></strong><strong><em>ố</em></strong><strong><em>i l</em></strong><strong><em>ậ</em></strong><strong><em>p ph</em></strong><strong><em>ả</em></strong><strong><em>i c</em></strong><strong><em>ấ</em></strong><strong><em>p t</em></strong><strong><em>ố</em></strong><strong><em>c thành hình và đ</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em>t xu</em></strong><strong><em>ấ</em></strong><strong><em>t trong lòng ch</em></strong><strong><em>ế</em></strong><strong><em> đ</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em> đ</em></strong><strong><em>ả</em></strong><strong><em>ng tr</em></strong><strong><em>ị</em></strong><strong><em> c</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em>ng s</em></strong><strong><em>ả</em></strong><strong><em>n hi</em></strong><strong><em>ệ</em></strong><strong><em>n nay đang ra s</em></strong><strong><em>ứ</em></strong><strong><em>c n</em></strong><strong><em>ắ</em></strong><strong><em>m gi</em></strong><strong><em>ữ</em></strong><strong><em> đ</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em>c quy</em></strong><strong><em>ề</em></strong><strong><em>n cai tr</em></strong><strong><em>ị</em></strong><strong><em> đ</em></strong><strong><em>ấ</em></strong><strong><em>t n</em></strong><strong><em>ướ</em></strong><strong><em>c</em></strong></span><em><span style="color: #333333;">. D</span></em><em>ướ</em><em>i đây là môt s</em><em>ố</em><em> nh</em><em>ậ</em><em>n đ</em><em>ị</em><em>nh – đã đ</em><em>ượ</em><em>c nêu lên và</em><em>o m</em><em>ộ</em><em>t th</em><em>ờ</em><em>i đi</em><em>ể</em><em>m đã qua nh</em><em>ư</em><em>ng v</em><em>ẫ</em><em>n còn giá tr</em><em>ị</em><em> th</em><em>ờ</em><em>i s</em><em>ự</em><em> cao – v</em><em>ề</em><em> kh</em><em>ả</em><em> th</em><em>ế</em><em> khai sinh ra l</em><em>ự</em><em>c l</em><em>ượ</em><em>ng đ</em><em>ố</em><em>i l</em><em>ậ</em><em>p </em><em>ấ</em><em>y mà tình th</em><em>ế</em><em> đòi h</em><em>ỏ</em><em>i.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Kết hợp tranh đấu nhân quyền với tranh đấu dân chủ</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước tình hình trong nước có vẻ chớm bắt đầu ngột ngạt trở lại. Tự cho rằng thế ngoại giao tạm thời đã được củng cố đồng thời cũng để chặn đứng phong trào đòi dân chủ bằng đường lối hòa bình đang thành hình ở ngay trong lòng chế độ, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại để lộ bộ mặt độc tài toàn trị mà ít lâu nay họ cố che đậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà Nội, nhà cầm quyền Việt Nam vừa chuẩn bị một cơ sở pháp lý mới để cơ quan hành chánh, không cần dựa vào quyết định của cơ quan tư pháp, được quyền “quản chế” những ai mà công an liệt vào hạng “nguy hại cho an ninh quốc gia” vì đã “làm mất trật tự xã hội”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong>Đ</strong><strong>ộ</strong><strong>c tài hi</strong><strong>ệ</strong><strong>n nguyên hình</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng vẫn theo nguồn tin trên thì cơ sở pháp lý ấy là một “Nghị định” (Decree) của chính phủ. Trong khi chờ đợi biết rõ ai là tác giả nghị định ấy, hãy tạm không bàn tới tính hợp hiến hay không hợp hiến của nó. Vả lại trong hệ thống pháp luật cộng sản, làm gì có thứ bậc qui phạm (hiérarchie des normes) rõ ràng. Tuy miệng quảng cáo rầm rộ cho cái gọi là “nhà nước pháp quyền” (mập mờ đánh lận con đen với các loại Etat de droit, Rechtsstaat, v.v… của dân chủ phương Tây) nhưng trong thực tế những người cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn bám lấy những nguyên lý chuyên chính vô sản là nắm trọn trong tay tất cả mọi quyền hành để độc đoán cai trị hơn cả vua chúa ngày xưa. “Đổi mới”, “pháp quyền”, “dân chủ xã hội chủ nghĩa” loanh quanh một hồi rồi đâu vẫn vào đó. Chính quyền ngày nay, dù đã hội nhập vào thế giới văn minh, vẫn giống như chính quyền trong rừng ngày trước, muốn bắt ai thì bắt, muốn giam ai thì giam. Xưa thì nại cớ “chiến tranh giải phóng”, nay thì viện lẽ “ổn định xã hội”, “an ninh quốc gia”. Rút lại vẫn chỉ là những thủ đoạn chuyên chế, độc tài, phát xít, xít ta lin nít đã hoàn toàn lỗi thời. Những thủ đoạn kỳ quái, đảo lộn, ngược đời kiểu “đêm giữa ban ngày”, đúng như tựa đề cuốn hồi ký của một người đã may mắn sống sót và ra thoát khỏi cái thế giới “đêm” ấy để nói lên sự thật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong>Vi ph</strong><strong>ạ</strong><strong>m nhân quy</strong><strong>ề</strong><strong>n, tr</strong><strong>ướ</strong><strong>c đã rõ nay càng rõ h</strong><strong>ơ</strong><strong>n<br />
</strong></span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nói theo kiểu bình dân, những người cộng sản khôn nhưng không ngoan! Họ tưởng lầm rằng mượn những từ hoa mỹ “an ninh quốc gia” để che đậy ý đồ độc tài toàn trị là có thể dễ dàng đánh lừa được dư luận. Nhưng thế giới văn minh ngày nay không phải là những mật khu ngày xưa. Ngày 24-9-1982, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã tham gia hai Công ước quốc tế về các nhân quyền mà không có một dè dặt (réserve) nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Việc tham gia này có hiệu lực kể từ ngày 24-12-1982. Khác với bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Pacte international relatif aux droits civils et politiques) có hiệu lực như những luật quốc tế ràng buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam là người đã tham gia. Công ước này đặt ra cho nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam nhiều nghĩa vụ phải thi hành không thể nại cớ này cớ nọ để lẩn tránh, hay xuyên tạc sang đoạt, giảm bớt hoặc hủy bỏ. Nói tổng quát, tham gia Công ước này, nhà cầm quyền cộng sản bắt buộc phải coi mỗi người dân là một “con người” với đầy đủ nhân phẩm của nó nghĩa là có một loạt quyền để có thể sống một đời sống tự do, bình đẳng, dưới sự che chở của luật pháp. Căn cứ vào Công ước nói trên mà xét, việc nhà cầm quyền cộng sản quản chế công dân bằng biện pháp hành chính quả là một vi phạm trầm trọng Công ước ấy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thật vậy, điều 2 phần II của văn bản quốc tế này định rằng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“Mỗi quốc gia thành viên của Công ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền pháp lý của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc mọi quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác”. Mặt khác, điều 5 cũng của phần II, nói rõ rằng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“1. Không được phép giải thích bất kỳ một qui định nào của công ước này để qua đó có hàm ý tạo cho một quốc gia, một nhóm người hoặc một cá nhân có được một quyền nào đó để tiến hành những công việc hoặc hành động nhằm mục đích hủy bỏ bất kỳ quyền và tự do nào được công nhận trong Công ước hoặc nhằm giới hạn những quyền và tự do đó quá mức độ qui định trong Công ước”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“2. Không được phép hạn chế hoặc hủy bỏ các quyền cơ bản của con người đã được công nhận hoặc hiện tồn tại ở một quốc gia thành viên của Công ước này trên cơ sở luật, điều ước, các qui định pháp luật hoặc tập quán với cớ là Công ước này không công nhận những quyền ấy hoặc công nhận ở một mức độ thấp hơn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hai điều 2 và 5 này không cho phép nhà cầm quyền cộng sản tùy tiện đặt ra hay giải thích méo mó luật pháp để xâm phạm nhân quyền của mỗi công dân dù các công dân đó bất đồng chính kiến với người cộng sản, khác tôn giáo với người cộng sản. Cộng sản lại cũng không thể đưa ra chiêu bài “truyền thống dân tộc” để thoái thác không thi hành những nghĩa vụ mà công ước đã qui định như trên. (Tưởng cũng nên nói thêm là cộng sản Việt Nam không thể đồng hóa mình với cộng sản Trung Quốc vì Trung Cộng nại cớ không công nhận tư cách đại diện của Trung Hoa Quốc Gia – năm 1966 đã ký vào Công ước nên tự coi là không có nghĩa vụ thi hành Công ước).</span></p>
<p><em><img class="aligncenter" src="http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRqSdbunvJc3oCU_76Y_YE2faXY6mTgveew08KTsQi-hbHECv76fA" alt="" width="391" height="277" /></em></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong>Nhà c</strong><strong>ầ</strong><strong>m quy</strong><strong>ề</strong><strong>n c</strong><strong>ộ</strong><strong>ng s</strong><strong>ả</strong><strong>n có th</strong><strong>ể</strong><strong> n</strong><strong>ạ</strong><strong>i lý do “an ninh qu</strong><strong>ố</strong><strong>c gia” đ</strong><strong>ể</strong><strong> xâm ph</strong><strong>ạ</strong><strong>m m</strong><strong>ộ</strong><strong>t cách h</strong><strong>ợ</strong><strong>p pháp!” </strong>quyền của các công dân nói khác đi, để đàn áp đối lập – được không? Không được! Câu trả lời có thể dứt khoát ngay như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước hết, như điều 4 của Công ước đã qui định chỉ khi nào có một “tình trạng khẩn cấp, đe dọa sự sống còn của quốc gia” đã được ban bố thì mới có thể đi ngược lại, nghĩa là ngưng thi hành những điều khoản của Công ước. Đây không phải là trường hợp của Việt Nam, trước mắt. Trong tương lai, Việt Nam cũng không ở trong triển vọng bị lâm vào một tình trạng khẩn cấp. Không có chiến tranh, không có thiên tai, v.v… đời sống ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra một cách bình thường. Tại sao phải ngưng thi hành Công ước?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vả lại ngay dù cho có “tình trạng khẩn cấp” chăng nữa, nhà cầm quyền Việt Nam một mặt chỉ có thể lấy những biện pháp bất thường nào “không trái với những nghĩa vụ khác, xuất phát từ luật quốc tế và không chứa đựng nội dung phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội”, mặt khác cũng vẫn phải tôn trọng những nhân quyền cơ bản đã được liệt kê trong điều 6, 7, 8 (các đoạn l và 2), 11, 15, 16 và 18. Đó là những quyền “được sống”, “không bị tra tấn… đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc nhục hình…”, “không bị bắt làm nô lệ,… làm nô dịch”, “không thể bị kết án phạm tội hình sự vì một hành động hoặc bất hành động không phải là tội phạm theo luật quốc gia hoặc luật quốc tế vào thời gian xảy ra hành vi đó”, “tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo…”(1). Muốn xé rào để có cơ sở pháp lý đàn áp đối lập, nhà cầm quyền cộng sản phải vượt qua loạt khóa an toàn vừa kể.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điều quá hiển nhiên là nhà cầm quyền cộng sản khi ban hành nghị định “quản chế” đã không vượt qua được bất cứ khóa an toàn nào. Nhưng họ cứ tri tình dày xéo lên những cam kết tuân thủ những qui phạm của Luật quốc tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Như vậy là những hành động vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản, trước đã rõ nay lại càng rõ thêm. Không một luận cứ pháp lý nào có thể biện minh cho những hành động vi phạm ấy. Vấn đề được đặt ra cho những người dân chủ Việt Nam ở trong cũng như ở ngoài nước, là phải đối phó cách nào cho có hiệu quả với tập đoàn cầm quyền bất chấp luật pháp ấy?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tăng cường và nâng cao phẩm chất tranh đấu nhân quyền</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Việc tranh đấu chấm dứt bạo quyền là một vấn đề hết sức phức tạp nhưng lại dễ bàn luận. Ai cũng có có sẵn lập trường, có sẵn kế hoạch, chiến lược, chiến thuật.</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở đây tuyệt đối không bàn suông, chỉ có một số nhận định rất giới hạn vào phạm vi luật học và chỉ nhắm vào hành động thực tế, cụ thể mà một số người Việt ở ngoài nước có thể tiến hành. Đó là việc tranh đấu nhân quyền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong những năm 80, dư luận người Việt ở ngoài nước hồi hộp theo dõi tin tức vụ “kiện” cộng sản vi phạm nhân quyền trước Liên Hiệp Quốc. Thật ra “kiện” cũng chỉ là một cách nói – cường điệu – để diễn tả công việc chống đối bằng luật pháp khi không có cách chống đối nào khác. Thời gian qua đã cho thấy đi “kiện” như vậy là đã đi đến đâu. Về điểm này, thiết tưởng không nên quá khe khắt mà cũng đừng quá dễ dãi. Công bình mà nói, không phải ai cũng có thể trực tiếp lên tiếng trước diễn đàn của Liên Hiệp Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhưng mặt khác, không phải là cứ lên tiếng trước diễn đàn ấy là giải quyết xong vấn đề chuyên chế tại Việt Nam. Nếu chỉ cần có bấy nhiêu thôi thì những tiếng nói của<strong> </strong>một số không nhiều người Việt Nam từng cất lên (trong số đó có tác giả bài viết này) tại Mỹ, Áo, Thụy Sĩ, v.v… để đọc những bản cáo trạng nghiêm khắc lên án cộng sản, đã mang lại từ lâu dân chủ cho nước này rồi! Thế mà bạo quyền chẳng những vẫn còn tại vị mà lại ngày càng “trụ” vững trên ngôi chuyên chế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chẳng lẽ vì vậy mà những người chống đối bạo quyền ấy đành bó tay sao? Phải duyệt xét lại việc làm đã qua để tìm những cách đối phó mới. Về điểm này, sẽ không có nhiều giải pháp. Cũng lại phải đi “kiện” nữa mà thôi, chữ “kiện” hiểu theo nghĩa thật rộng của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sự thực, đứng về mặt luật quốc tế mà nói, trong hiện tình, người Việt Nam nạn nhân của bạo quyền cộng sản không có một tố quyền nào trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc khả dĩ có thể mang lại cho mình những phán quyết như loại phán quyết của tòa án. Tuy nhân quyền được Liên Hiệp Quốc đề cao, được nhiều văn bản luật quốc tế qui định và bảo vệ nhưng thủ tục để cho các nạn nhân bị chà đạp nhân quyền khiếu nại lại rất giới hạn và ít hiệu quả. Trong cơ chế của Liên Hiệp Quốc có 5 cơ quan, với những thẩm quyền rộng hẹp khác nhau, có thể thụ lý và giải quyết các vấn đề nhân quyền. Đó là Hội Đồng Bảo An, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Ủy Hội Nhân Quyền, Ủy Ban Nhân Quyền và Cao Ủy Nhân Quyền(2). Hãy gạt ngay sang bên Hội Đồng Bảo An và Đại Hội Đồng LHQ, vì hai cơ quan này ở ngoài tầm vận động trong lúc này của người Việt Nam, nạn nhân bạo quyền cộng sản. Cao Ủy Nhân Quyền, mới thiết lập được hai ba năm nay, không coi vấn đề vi phạm nhân quyền tại Việt Nam có giá trị ưu tiên. Trong số hơn 30 quốc gia mà ông đã viếng thăm từ khi nhậm chức, không thấy có nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ủy Ban Nhân Quyền là cơ quan mà Công ước quốc tế về quyền dân sự chính trị lập ra để giải quyết những vụ vi phạm nhân quyền trái với Công ước này. Oái oăm thay, cộng sản Việt Nam tuy có tham gia Công ước nhưng lại không tham gia Hiệp định thư thứ nhất phụ đính Công ước này nên Ủy Ban không có thẩm quyền xét khiếu nại của các nạn nhân Việt Nam. Chỉ còn Ủy Hội Nhân Quyền với thủ tục gọi là “Thủ tục 1503″ (1503 là số thứ tự nghị quyết của Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội ngày 27-5-1970 qui định thủ tục xét đơn khiếu nại về những sự vi phạm nhân quyền và những quyền tự do cơ bản) là nơi độc nhất để các nạn nhân Việt Nam mất nhân quyền có thể kêu cầu. Nhưng thủ tục hiếm hoi này lại rất nhiêu khê vì không phải ai muốn kêu cầu cũng được và muốn kêu cầu ra sao thì kêu. Nó đòi hỏi một số điều kiện về hình thức cũng như về nội dung đề hành sử (trong một dịp khác xin bàn kỹ hơn). Cũng may là nước Việt Nam đã bị ghi vào sổ đen vì những vi phạm nhân quyền (đây là công tranh đấu mấy chục năm qua của những người Việt tị nạn cộng sản) nên tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc ở Genève, tiếng nói của những nạn nhân Việt Nam vẫn còn có cơ hội tiếp tục cất lên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nếu muốn dựa vào các Công ước quốc tế về nhân quyền để tranh đấu cho nhân quyền thì trong tương lai phải biết góp gió thành bão, nâng cao phẩm chất cuộc tranh đấu ấy cho thích hợp với môi trường quốc tế chứ không phải cho riêng “cộng đồng người việt hải ngoại”. Những chiến sĩ dân chủ kiên cường trong nước đang bị đe dọa trước mắt với nghị định “quản chế” mà bạo quyền vừa ban hành. Những người dân chủ Việt Nam ở ngoài nước cần tỏ và phải tỏ ra có khả năng ứng cứu, yểm trợ người dân chủ ở trong nước. Kết hợp được chặt chẽ hai cuộc tranh đấu này là sớm đặt được nền móng cho một nước Việt Nam dân chủ trong tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000080; font-size: large;"><strong>LS. Tr</strong><strong>ầ</strong><strong>n Thanh Hi</strong><strong>ệ</strong><strong>p</strong></span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/hanh-s%e1%bb%ad-quy%e1%bb%81n-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-d%e1%bb%83-hinh-thanh-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

