<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Viet Thuc &#187; CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI</title>
	<atom:link href="http://www.vietthuc.org/category/chinh-tr%e1%bb%8b-phap-lu%e1%ba%adt-kinh-t%e1%ba%bf-xa-h%e1%bb%99i/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://www.vietthuc.org</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Tue, 07 Feb 2012 19:02:39 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.1.3</generator>
		<item>
		<title>Tâm sự đầu năm</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/tam-s%e1%bb%b1-d%e1%ba%a7u-nam/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/tam-s%e1%bb%b1-d%e1%ba%a7u-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 05:18:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Huynh Thuc Vy</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35195</guid>
		<description><![CDATA[Tâm sự
đầu năm
Những khoảng tĩnh lặng ngắn ngủi luôn thực sự cần thiết để mỗi người tự làm mới bản thân, nó quan trọng hơn chúng ta nghĩ trong cuộc sống nhiều áp lực này. ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #008080;"><strong><span style="font-size: x-large; font-family: verdana, geneva;"><img style="float: left; margin-left: 12px; margin-right: 12px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-JAN-25-Beautiful-21.jpg" alt="" width="180" height="200" />Tâm sự<br />
đầu năm</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Những khoảng tĩnh lặng ngắn ngủi luôn thực sự cần thiết để mỗi người tự làm mới bản thân, nó quan trọng hơn chúng ta nghĩ trong cuộc sống nhiều áp lực này. Nếu không có chúng có lẽ chúng ta chẳng có đủ năng lực tinh thần và sức khỏe để tiếp tục hành trình cam go của mình. Đó là điều mà bản thân tôi đã trải nghiệm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Khoảng thời gian này tôi không viết, không tham gia hội luận, ít Facebook- những hoạt động khá lý thú nhưng cũng tiêu hao rất nhiều tâm lực. Là một người trầm tĩnh (tôi xin tự nhận định mình như vậy,và ao ước được như vậy), không thích nói nhiều, tôi thích được yên tĩnh một mình để đọc và suy ngẫm. Tránh xa những tranh cãi và sự rầm rộ của truyền thông, tôi hy vọng mình có nhiều thời gian để suy nghĩ về chính mình. Lắm lúc tôi nghĩ rằng, những gì mọi người nói về mình chưa phải là giá trị thực của mình. Một người tự tin và điềm đạm phải là người biết nhận chân chính mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Nhưng hôm nay, trong cái không khí đầu xuân tươi vui của đất trời, tự nhiên lại thích viết vài dòng tâm sự với mọi người. Quả thực, viết nghị luận là việc yêu thích nhất của tôi, nó là thứ đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều về chính mình, về mọi người, về cuộc đấu tranh…Cũng chính vì việc viết lách này, tôi đã phải trực diện đối mặt với những kẻ nắm trong tay bạo lực Nhà nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Nhưng phần nhiều những sự căng thẳng của tôi không đến từ chính quyền. Đối với những đàn áp và khủng bố của bạo quyền có thể nói tôi được chuẩn bị tinh thần từ hai mươi năm trước-từ cái lúc họ bắt bỏ tù ba tôi mười năm, chưa kể đến những sách nhiễu khác trong hai mươi năm nay mà tôi không tiện kể ra đây. Đây là những dòng tôi viết cho những người muốn cản trở niềm yêu thích bé nhỏ của tôi, cái hoài bão con con của tôi (là được sống như một người có ích và được tự do), cản trở cái việc mà tôi nghĩ là mình am hiểu hơn những việc khác, và cũng là việc giúp tôi nhận thức các giá trị của xã hội cũng như nhân phẩm của bản thân. Nếu có ai đó nghĩ rằng việc khuyến dụ, hù dọa, làm phiền có thể làm tôi mất tinh thần và từ bỏ việc tôi đang làm thì họ đã nhầm. Làm sao một người có thể từ bỏ cái công việc định hình cuộc sống của cô ta? Làm sao những hành động sách nhiễu có thể ngăn một người được sống như cô ta vốn có? Quý vị quá dư dả thời gian và tiền bạc để làm những công việc vô bổ, mà chính chúng phủ nhận hoàn toàn nhân cách của quý vị.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đối diện với thế giới hôm nay- nơi mà internet mở tung mọi cánh cửa bí mật và nhạy cảm, nơi mà ngay cả những con người từ lâu đã bị cho là mang một văn hóa xung đột với tự do (Hồi giáo) cũng không thể cam chịu các kẻ độc tài như quý vị, nơi mà những chuyển biến chiến lược  không nằm trong tay những chính quyền bất hảo như quý vị mà ngược lại chính quý vị cũng chỉ là những kẻ bị thời thế xô đẩy trên bàn cờ thế giới, quý vị lo sợ ư? Quý vị lo sợ là hợp lý. Nhưng tôi nghĩ rằng càng lo sợ quý vị càng phải hành động cẩn thận và chính xác, đừng để nỗi lo sợ bị lật đổ khiến quý vị hành động như những đứa trẻ không được dạy dỗ. Tôi vẫn luôn muốn nói với quý vị, nếu quý vị còn chút xét đoán tỉnh táo, rằng : những kẻ sai lầm nếu biết sớm sửa chữa sẽ được thứ tha. Đối diện trực tiếp với an ninh và chính quyền địa phương, tôi có thêm một trải nghiệm sống động về những người cộng sản cầm quyền. Quý vị là những người có tư cách và tài trí quá đỗi tầm thường, quý vị nói năng nhăng cuội và và thiếu hiểu biết như những tên lý trưởng phong kiến. Quý vị tự coi mình là cha mẹ dân. Thật không thể hiểu nổi!Vậy mà quý vị lại muốn tiếp tục ngồi ghế lãnh đạo, không những thế còn ngồi trên đầu trên cổ người dân? Than ôi, những kẻ “đại chí sơ tài” luôn gây ra thảm họa cho xã hội và đến một lúc nào đó sẽ gây ra thảm họa cho chính bản thân họ. Đây là những lời thực tâm từ một người mà tuổi trẻ, sức sống và những cảm nhận nhân văn hẳn nhiên làm cho cô ta nhìn nhận và phát biểu mọi điều một cách trong sáng và chân thật nhất có thể.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Năm nay sẽ là năm cả thế giới và Việt Nam sẽ đối mặt với nhiều thử thách khó giải quyết. Trong những ngày đầu năm này, bằng tất cả thiện chí,, tôi xin kính chúc quý vị có đủ dũng cảm để hành động như những con người có ý thức chứ không phải là những con thú chạy theo dục vọng. Xin thành tâm kính chúc quý vị có thêm trí tuệ và mãnh lực tinh tấn để : “phóng hạ đồ đao”, không phải để mang lại cái gì cho ai cả mà trước tiên là để quý vị nhận được sự thứ tha từ dân chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trong những ngày qua, điều làm tôi suy nghĩ nặng lòng nhất vẫn là những tấm lòng yêu thương, ngợi khen và kỳ vọng của những người yêu quý tôi. Hơn ai hết, tôi biết sức mình có hạn. Dù ý chí và nguyện ước được sống hữu ích nhưng thật sự tôi biết mình còn quá trẻ, ít kinh nghiệm và quá nhiều thiếu sót. Tôi luôn tự hỏi không biết rồi mình sẽ làm được cái gì tốt đẹp cho trú xứ quê hương này không? Đồng ý rằng, thanh niên là “quốc gia lương đống”, là những người phải gánh vác trách nhiệm với non song do tiền nhân để lại. Nhưng nếu không có những bậc cha anh dày dạn kinh nghiệm, chúng tôi sẽ khó lòng có được thành công. Hơn nữa, những điều đáng để kỳ vọng là tài đức chứ không phải là sự sôi nổi, can đảm và tuổi trẻ. Tôi đang nói về nhiều trường hợp trong đó có tôi. Là một người trẻ, tất nhiên tôi tự tin rằng chúng tôi sẽ có thể góp phần cho một sự thay đổi tốt đẹp của quốc gia. Nhưng có một điều tôi luôn lo lắng rằng rất có thể chính sự nhiệt thành, quá tự tin và quá ưa chuộng những giá trị không thực làm cho tuổi trẻ mắc sai lầm. Đôi khi sự ngợi khen và kỳ vọng của những bậc tiền bối làm cho những người trẻ ảo tưởng về tầm quan trọng của mình. Là những người đang đấu tranh cho một giá trị mới, chúng ta nên chú tâm vào những giá trị thực tiễn chứ không cổ vũ cho những phô trương bề nổi. Tôi vui vì mình được tin yêu nhưng tôi nặng lòng biết bao vì tôi nghĩ mình còn chưa xứng đáng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tôi không ít lần suy nghĩ về một Việt Nam tương lai, Việt Nam ngày đó phải được trao vào tay những người vừa có thực tâm, lẫn thực tài. Gánh vác một quốc gia đang là một con bệnh văn hóa, kinh tế, chính trị là việc không dễ dàng. Những người mang trọng trách này phải là những kẻ sáng mắt và giàu kinh nghiệm như hoa tiêu, từ ái như một vị lương y, cẩn thận và hiểu biết như một chuyên gia. Dẫn dắt một kẻ có bệnh luôn  khó khăn và đòi hỏi nhiều phẩm chất tốt đẹp ở những người lãnh đạo. Những sự bất cẩn, nhiệt tình, phô trương bề ngoài của những người lãnh đạo không phải là những yếu tố tốt lành  và đáng được kỳ vọng cho một Việt Nam vốn đã mang nhiều bất hạnh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Làm người lãnh đạo chính trị một quốc gia không phải là làm ca sĩ, hay minh tinh màn bạc; và chính trị không phải là kỹ nghệ giải trí- nơi mà tính đại chúng luôn được tung hô. Xây dựng và phát triển quốc gia cần những người có thực tài và có chiều sâu hơn là danh tiếng bên ngoài. Thiết nghĩ ngày hôm nay chúng ta phải suy nghĩ nghiêm túc về điều này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Như tất cả chúng ta có thể thấy, trong lịch sử nhân loại cũng như trong các sự kiện thế giới gần đây, việc loại bỏ một nền độc tài luôn tương đối dễ dàng hơn và cần ít những phẩm chất tích cực của những người đấu tranh cũng như người dân sở tại hơn việc xây dựng một thể chế mới tốt đẹp. Một cách tương đối, có thể nói rằng nếu việc loại bỏ một thể chế phản động chỉ cần hội đủ những điều kiện dường như tiêu cực hơn như: suy thoái hay sụp đổ nền kinh tế, lòng dân phẫn uất cùng cực, tình hình thế giới biến động, chiến tranh…; thì việc xây dựng nền tự do luôn đòi hỏi ở chúng ta những điều kiện tích cực hơn nhiều: hiểu biết và niềm khao khát tự do, sự thắng thế của văn hóa dân chủ, sự lớn mạnh của các định chế dân sự…Nếu sự ra đi của một chế độ độc tài là một biến cố, thì việc xây dựng nền dân chủ là cả một quá trình liên tục và không có điểm dừng. Một sự nghiệp to lớn như thế cần ở chúng ta- những người đang đấu tranh sự nghiêm túc trong cả suy nghĩ và hành động. Không có tòa nhà to đẹp nào được xây dựng bởi những kẻ lười biếng học hỏi, chểnh mảng và thiếu chín chắn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tôi cho rằng một người đấu tranh cho dân chủ ít nhất phải biết dân chủ có điều kiện, mục đích và đặc trưng nào. Phải có hiểu biết nhất định về một vấn đề ta mới có thể nhiệt thành mà dấn thân vì nó. Không phải bất cứ ai  phản kháng với chính quyền độc tài đều là những người có khả năng kiến lập nền dân chủ . Vậy muốn thành công trong công cuộc xây dựng dân chủ chúng ta phải là những người tôn trọng và đấu tranh cho cái mà tôi gọi là “những giá trị thật” chứ không phải là những giá trị được thổi phồng bởi số đông.</span></p>
<p style="text-align: center;"><img style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-JAN-25-Beautiful-21.jpg" alt="" width="100" height="111" /></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đầu năm mới Nhâm Thìn, với những ưu tư chân thành nhất, tôi viết ra những dòng này. Tôi yêu đất nước tôi, tôi luôn mong muốn Việt Nam trong tương lai sẽ có được những người lãnh đạo có thực tâm để không làm tổn thương dân tộc thêm lần nào nữa, có thực tài để biết cần phải làm gì khi lèo lái con thuyền đất nước. Bất cứ ai thực tâm vì nền dân chủ tôi sẵn sàng ủng hộ và theo gót. Nhưng ngược lại, bất cứ người nào làm điều ngược lại, dù với chút sức lực bé nhỏ, tôi sẽ dùng cả đời mình để cổ vũ sự phản kháng. Một năm mới nữa đã đến, lại cầu nguyện cho tất cả chúng ta.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: large; color: #000080;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva;">Huỳnh Thục Vy<br />
</span></strong></span><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tam Kỳ ngày 4 tháng 2 năm 2012</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/tam-s%e1%bb%b1-d%e1%ba%a7u-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Người Trí Thức Đưa Đất Nước Đi Lên</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/ng%c6%b0%e1%bb%9di-tri-th%e1%bb%a9c-d%c6%b0a-d%e1%ba%a5t-n%c6%b0%e1%bb%9bc-di-len/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/ng%c6%b0%e1%bb%9di-tri-th%e1%bb%a9c-d%c6%b0a-d%e1%ba%a5t-n%c6%b0%e1%bb%9bc-di-len/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 05:07:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyen Quang Duy</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT]]></category>
		<category><![CDATA[Người Trí Thức Đưa Đất Nước Đi Lên]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35094</guid>
		<description><![CDATA[
Người Trí Thức
Đưa Đất Nước
Đi Lên
Hoa Kỳ luôn giữ vai trò cường quốc số một thế giới là nhờ đã đặt giá trị của con người đúng mức. Nhất là giá trị những người trí ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;">
<p><span style="color: #008080; font-size: x-large;"><strong><img style="float: left; margin-left: 10px; margin-right: 10px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-48-MAR-4-INTELLECT-1-9-.jpg" alt="" width="100" height="102" /><span style="font-family: verdana,geneva;">Người Trí Thức</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva;">Đưa Đất Nước</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva;">Đi Lên</span></strong></span></p>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hoa Kỳ luôn giữ vai trò cường quốc số một thế giới là nhờ đã đặt giá trị của con người đúng mức. Nhất là giá trị những người trí thức. Về lý thuyết Hoa Kỳ có cả một trường phái kinh tế học ra đời vào những năm 1980, chứng minh được tăng trưởng và phát triển quốc gia tùy thuộc vào tri thức (<em>new growth theory</em>).</span></div>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Dựa vào lý thuyết và thực tiễn chứng minh được, người theo trường phái này hướng đến những chính sách xây dựng môi trường phát huy và tận dụng những tài sản trí tuệ nhân lọai. Họ cổ vũ việc các quốc gia muốn phát triển cần tôn trọng nhân quyền, dân chủ, tự do và khuyến khích một thế giới tự do trên mạng tòan cầu.</span></p>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="font-size: large;"><strong>Việt Nam Tồn Tại Trong Suy Thóai – Chết Lâm Sàng</strong></span></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
Gần đây diễn đàn BBC mở ra một cuộc tranh luận về vai trò của những người trí thức trong hòan cảnh Việt Nam hiện nay. Một hòan cảnh mà ông Nguyễn Phú Trọng phải công khai bàn đến việc chỉnh đốn đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tránh sụp đổ. Còn ông Lê Khả Phiêu diễn tả “Đảng tồn tại trong suy thoái”.</span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đảng Cộng sản lại là đảng cầm quyền vì thế đất nước cũng luôn trong cùng một tình trạng: tồn tại trong suy thóai. Theo cách nói của Giáo Sư Ngô Bảo Châu là Việt Nam đang chết lâm sàng.</span><span style="font-size: large;"><strong> </strong></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="font-size: large; font-family: verdana,geneva;"><strong><br />
Trí Thức Ta – Trí Thức Nô Lệ</strong></span></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
Mồng một Tết, trên diễn đàn BBC nhà văn Võ thị Hào lập luận lịch sử Việt Nam là lịch sử của những người nô lệ. Ngày nay đại đa số người làm việc bằng trí óc chỉ vì miếng ăn ngon. Họ vẫn là những người nô lệ.</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
Bà Hào cho rằng trí thức như bộ não của xã hội. Nếu xã hội không có trí thức thì cũng như con người không có bộ não. Nói theo kiểu của nhà văn Phạm thị Hòai thì độ cao trí tuệ của người trí thức Việt Nam chỉ tính từ cái cổ trở xuống. Đó chính là lý do Việt Nam vẫn thua xa các nước trong vùng.</span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
</span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong>Thợ Văn, Thợ Báo, Thợ Vẽ, Thợ Thơ, Thợ Dạy, Thợ Nhạc …</strong></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><br />
</strong></span></div>
<div><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng ngày đầu năm được nhà văn Phạm thị Hòai phỏng vấn, nhà báo Lê Phú Khải diễn tả trí thức Việt Nam ra hình hài “người” hơn. Ông Khải cho biết: “<em>Theo tôi thì ở Việt Nam, trừ một số ít trí thức có tư duy độc lập còn thì không có đội ngũ trí thức đúng với tên gọi, đúng với nội hàm của nó. Cái gọi là tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa là những người do Đảng đào tạo nên để làm công chức cho Đảng. Vì thế Đảng nói gì họ nghe nấy, Đảng bảo sao họ làm vậy, vậy thôi.</em>”Những công chức của “Đảng” bao gồm nhà văn, nhà báo, giáo sư, họa sỹ, nhạc sỹ … nghĩ cho cùng chỉ là thợ viết văn, thợ viết báo, thợ dạy, thơ vẽ, thợ viết nhạc, thợ làm thơ … không hơn không kém. Việt Nam chỉ là một cơ xưởng “sáng tác”. Họ sáng tác theo mệnh lệnh của “Đảng” và nhằm phục vụ “Đảng”. Lẽ đương nhiên khi làm người, ai cũng muốn vươn lên, nhưng chính cái hệ thống của “Đảng” đã không tạo cơ hội hay cho phép họ trở thành người trí thức.</span><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"> </span><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong> </strong></span></div>
</div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi đảng Cộng sản không còn tư tưởng để bám víu, không còn quyền lực để ban hành mệnh lệnh, tầng lớp công chức “Đảng” trở nên tê liệt, ù lỳ, thiếu khả năng “sáng tác” và trở thành gánh nặng xã hội. Xã hội lâm vào tình trạng chết lâm sàng.<br />
</span><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><br />
</strong><strong>Trí Thức Tây – Những Con Người Tự Do</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong khi những người thuộc thế hệ trước hết sức bi quan, được báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần phỏng vấn Giáo sư Ngô Bảo Châu cho biết “<em>vẫn đầy niềm tin tương lai</em>”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Được hỏi về vai trò của trí thức ông Bảo Châu cho biết: “<em>Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội</em>.” Cách suy nghĩ của Giáo sư Bảo Châu là cách suy nghĩ của một người được đào tạo và làm việc trong môi trường Khoa Học thực nghiệm Tóan Tây Phương. Tạm gọi là Trí Thức Tây.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Phương cách giáo dục thực nghiệm của Tây Phương đào tạo những con người biết suy nghĩ, tự tìm và tự giải quyết vấn đề một cách thuần lý. Từ đó, xã hội đánh giá sự đóng góp của cá nhân qua những thành quả có thể đo lường được. Những công trình được phổ biến trên các tạp chí các diễn đàn chuyên môn. Những bằng sáng chế được quốc tế công nhận. Những sản phẩm cả tinh thần lẫn vật chất nhằm phục vụ cho nhân quần xã hội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Từ phương cách giáo dục thực nghiệm những người làm chuyên môn đều tích cực tranh luận trên các lãnh vực chuyên môn nhằm tìm ra sự thực hay phát hiện những điều mới mẻ. Kiến thức của họ truyền đạt, chuyển hóa, tích lũy và biến thành kiến thức chung của nhân lọai. Ảnh hưởng và uy tín của họ phát xuất từ khả năng chuyên môn mà họ truyền đạt và đóng góp cho xã hội. Trường hợp của Giáo sư Bảo Châu là cụ thể và rõ ràng nhất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vì làm việc trong một môi trường xã hội hòan tòan tự do và những đóng góp đều được xã hội tôn trọng đúng mức, những người làm chuyên môn Tây Phương thường rất ít tham gia vào những cuộc tranh luận về chính trị hay chính sách. Nói đúng ra họ ít có cơ hội để cất tiếng phê phán chính sách của các chính phủ do dân chúng bầu ra.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Những Con Số Biết Nói</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Theo thống kê, trong 5 năm 2006-2010, số bằng sáng chế được quốc tế công nhận đứng đầu là Mỹ với 1.000.900 bằng, đứng thứ 2 là Nhật Bản 197.075 bằng. Trong khi ấy Việt Nam chỉ có 5 bằng sáng chế, thấp hơn nhiều so với hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điều oái oan là riêng tại Hoa Kỳ ước tính có khoảng hơn 280 nhà phát minh người Mỹ gốc Việt được cấp bằng sáng chế, chỉ riêng Tiến sỹ Đoàn Trung đóng góp 72 bằng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Có thể vì nhận ra điều này giáo sư Ngô Bảo Châu quyết định về Việt Nam mỗi năm 3 tháng điều hành Viện Toán Cao Cấp. Giáo sư Bảo Châu cho biết: “<em>hiện nay tỷ lệ giảng viên toán có trình độ tiến sỹ chỉ là một con số rất nhỏ, quan trọng hơn tỷ lệ giảng viên toán có các công trình nghiên cứu khoa học theo chuẩn quốc tế nào đó lại là một con số vô cùng nhỏ</em>.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thực trạng khoa học nêu trên là do đảng Cộng sản luôn tự cao tự đại cho rằng họ là đỉnh cao của trí tuệ lòai người, do phương cách điều hành “hồng hơn chuyên”, và nhất là do thiếu hẳn một môi trường tự do cho sáng tạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Hành Động Theo Cừu</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở Tây Phương người khoa bản khi được thụ phong giáo sư đòi hỏi phải có ý kiến về các chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến chuyên ngành và đến xã hội. Họ thường là tiếng nói của Viện Đại Học họ đang làm và phải sẵn sàng để nhận lãnh vai trò cố vấn cho chính phủ khi được mời.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong khi ấy giáo sư Châu lại cho rằng người trí thức “<em>không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội</em>.” và xác nhận “<em>Nói đến chuyện thay đổi chính sách là tôi lại băn khoăn. Hình như cái mà ta làm cho đến nay là thấy cái gì chưa ổn thì ta sửa lại, sắp xếp lại, mà ít để ý đến sự vận động tự nhiên của cuộc sống</em>.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Giáo sư Bảo Châu đã nhận ra cái hệ thống mà giáo sư đang phục vụ, vận động phản tự nhiên, nói theo từ chính trị là “phản động”. Đương nhiên ông phải biết thực trạng Việt Nam không có một môi trường sinh họat tự do. Đảng Cộng sản luôn ôm đồm lãnh đạo mọi thứ. Buồn thay giáo sư Châu lại cho rằng những người trí thức như ông không có vai trò để đưa ra một hướng đi cụ thể nhằm xây dựng một xã hội, một nền khoa học tự do cho Việt Nam. Ông đơn thuần làm khoa học.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Giáo sư còn cho biết “<em>những khó khăn mang tính chất hành chính thì vẫn muôn hình vạn vẻ, nhưng tôi hi vọng giai đoạn này cũng sẽ chóng kết thúc để năng lượng được dồn vào những việc thật sự bổ ích là làm khoa học</em>.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngừơi viết cũng chưa bao giờ thấy các giáo sư tại Úc than phiền như trên. Tại Úc, người khoa bản đều biết tự trọng không luồn lách qua nhưng thủ tục nhiêu khê cho được việc. Ngược lại họ là những người luôn công khai đóng góp những phương cách để tháo gỡ những bế tắc hành chánh khi có chuyện xẩy ra. Với họ đây cũng chính là những đóng góp thực sự cho sự thăng tiến xã hội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Mặc dù cho rằng người trí thức “<em>không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội</em>.”, Giáo sư Châu quan niệm: “… <em>cần trân trọng những người trí thức, hoặc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng</em>.” Xã hội chết lâm sàng cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam tồn tại trong suy thóai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Giáo sư Nguyễn Huệ Chi có nhận xét như sau: &#8220;<em>Giáo sư Ngô Bảo Châu cũng đã nói đến cái phần sau là nếu không có phản biện thì xã hội chết lâm sàng. Nhưng trách nhiệm của cái xã hội chết lâm sàng ấy không đặt vào vai của trí thức thì đặt vào vai ai</em>&#8220;. Người trí thức làm việc bằng lý và được đào tạo để làm sáng tỏ vấn đề nên khi họ phê phán hay tranh luận dễ thuyết phục người nghe. Vì thế công việc phê phán chính yếu là công việc của người trí thức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Mâu thuẫn trong lời nói dễ dẫn đến mâu thuẫn trong hành động. Trước đây giáo sư Châu cho rằng “…<em>bám theo lề là việc của con cừu, không phải việc của con người tự do</em>.” Thế nhưng nếu người tự do khi sống giữa những người nô lệ lại không có tiếng nói hướng dẫn người nô lệ đứng lên đòi quyền tự do, thì có khác chăng <strong>ngừơi tự do sống giữa đàn cừu lại hành động theo cừu</strong>. Theo cách nói ông bà ta “<em>gần mực thì đen, gần đèn thì sáng</em>”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Những Câu Hỏi Cho Giáo Sư Bảo Châu</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở Tây Phương trong vai trò giáo sư và giám đốc Viện Toán Cao Cấp, Giáo sư Bảo Châu phải trả lời những câu hỏi về các chính sách của chính phủ, có ảnh hưởng đến Viện ông điều hành và đến chuyên ngành Tóan Học. Nhất là khi Viện Tóan Cao Cấp vừa được thành lập với kinh phí 650 tỷ đồng hơn 30 triệu Mỹ Kim.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tiến sỹ Vũ Duy Mẫn (United Nation New York) có một số câu hỏi như sau: Liệu toán học có phải là ngành cần đầu tư phát triển nhất ở Việt Nam? Khoa học xã hội, nông nghiệp hay môi trường có xứng đáng được ưu tiên phát triển hơn và mang lại nhiều lợi ích trực tiếp hơn cho đất nước ? Việt Nam là nước đang phát triển, còn rất nghèo, có nền toán học chưa tiên tiến. Vậy tại sao lại “hào phóng” đầu tư nghiên cứu toán cao cấp để có thể người được hưởng lợi nhiều chưa chắc đã là Việt Nam? Mục tiêu phấn đấu “<em>đến năm 2020 toán học Việt Nam có thứ hạng thứ 40 trên thế giớ</em>i” có ý nghĩa gì ? và thực chất có đáng để đầu tư hay không ? Nhiệm vụ cụ thể và đòi hỏi trách nhiệm giải trình của Viện trước chính phủ là gì ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Các câu hỏi nêu trên xuất phát từ bài “Gíao Sư Ngô Bảo Châu tiết lộ ‘bí mật’ của Viện Toán cao cấp” đăng trên báo Giáo duc Việt Nam. Các câu hỏi nêu trên dễ dẫn đến kết luận nhà nước cộng sản đưa tiền thuế của dân cho Viện chỉ để xây dựng một tháp ngà tóan học tại Việt Nam đánh bóng cho đảng Cộng sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sống và làm việc tại các quốc gia Tây Phương mọi việc đều minh bạch, nếu Giáo Sư muốn giữ gìn uy tín, Giáo Sư hay ai đó trong Viện phải trả lời rõ ràng các câu hỏi nêu trên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Giáo Sư Bảo Châu Nên ở Phương Tây</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng vì Việt Nam chưa có một môi trường sinh họat tự do nên tuyệt đại đa số những chuyên gia được đào tạo và làm việc chuyên môn tại Tây Phương đều ngao ngán khi nghĩ đến việc về nước phục vụ dù chỉ là ngắn hạn. Một số rất nhỏ trở về, nhưng lại trở ra với những nỗi thất vọng tràn trề. Những người này thường quan niệm đơn giản không muốn tham gia chính trị, phi chính trị thậm chí không muốn biểu lộ quan điểm chính trị. Thế nhưng khi về Việt Nam họ mới nhận ra chính trị do “Đảng” lãnh đạo bao trùm mọi vấn đề.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Người viết trân quý tâm và tài của Giáo sư Bảo Châu. Nhưng qua những việc kể trên và phương cách Giáo sư Bảo Châu giải quyết và ngụy biện, người viết tin rằng giáo sư đã chọn sai đường khi trở lại Việt Nam. Nếu ông ở Hoa Kỳ hay Pháp ông sẽ dành thời giờ qúy báu đóng góp cho khoa học cho nhân lọai thay vì về Việt Nam làm việc. Làm như thế ông được cả nhà cầm quyền cộng sản lẫn dân chúng tôn trọng và lắng nghe hơn.<strong> </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong> </strong><strong>Trí Thức Cổ Hủ &#8211; Trùm Chăn</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trả lời góp ý của Blogger Bọ Lập (Nguyễn Quang Lập), Giáo sư Ngô Bảo Châu cho biết định nghĩa về trí thức của ông là “ hơi cổ hủ ” giống như trí thức “trùm chăn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng theo ông vai trò lên tiếng không phải của riêng người trí thức mà là của người nông dân, của người doanh nhân, của mọi người. Điều ông nhận xét hòan tòan đúng trong một môi trường tự do. Ở đó mọi người đều được huấn luyện, có cơ hội, có tự do và bình đẳng như nhau. Tại Việt Nam khác xa người nông dân, người doanh nhân, … thậm chí mọi người mất đi cái quyền được nói. Họ sợ nói khác “Đảng” sẽ bị khép cho các từ “phản động chống Đảng”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng ngày mồng một Tết Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ đưa tin: “<em>Ông Dư Kiệt, Phó Hội trưởng Hội Văn bút Độc lập Trung Quốc, mới đây đã sang Hoa Kỳ tị nạn, cho biết tại một cuộc họp báo ở Washington rằng ông đã bị nhà cầm quyền Trung Quốc</em><em> </em><strong><em>tra tấn một cách tàn nhẫn và đe dọa chôn sống</em></strong>.” Thân phận của người trí thức Việt Nam cũng không khác mấy, thậm chí còn tệ hại hơn thân phận của người trí thức Trung Hoa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vì thế chỉ một thiểu số người có học hàm khôn khéo và can đảm cất tiếng nói. Những người trí thức này được xã hội lắng nghe hơn. Đừng nghĩ rằng họ muốn độc quyền phản biện mà ngược lại họ ao ước thêm người cùng cất tiếng nói, để họ có thể nói mạnh hơn mà lại ít nguy hiểm hơn. Quan sát kỹ tình hình sẽ dễ dàng nhận ra điều này.</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bởi thế thay vì về Việt Nam xây dựng một tháp ngà tóan học để đánh bóng cho đảng Cộng sản, không ít người kỳ vọng Giáo sư Châu nên cân bằng nỗ lực để xây dựng một môi trường xã hội và khoa học tự do.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trên báo Sinh viên Việt Nam số Tết, được đăng lại trên blog cá nhân của Giáo sư Bảo Châu, khi được Lê Ngọc Sơn hỏi “<strong>Trí thức cần gì nhất, theo Giáo sư?</strong>” ông đã trả lời “<strong>Tự do</strong>”. Không phải chỉ riêng người trí thức cần nhất là tự do, mà mọi người Việt Nam đang cần nhất hai chữ <strong>Tự Do</strong>. Thế nên khi Giáo Sư Bảo Châu phát biểu tạo ra không ít dư luận đối nghịch là một chuyện bình thường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điều bất bình thường là nếu Giáo sư Châu không nhận ra vấn đề và tiếp tục tự mâu thuẫn chính mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Trí Thức Dấn Thân</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trái với quan niệm trí thức cổ hũ, Tiến sĩ Jean-Francois Sabouret, một học giả của Pháp chuyên nghiên cứu về các vấn đề châu Á, cũng được BBC phỏng vấn về vai trò của trí thức trong quá trình biến đổi xã hội, ông cho rằng: “<em>người trí thức</em><em> </em><strong><em>&#8220;không có sự lựa chọn nào khác&#8221;</em></strong><em> </em><em>ngoài dấn thân và tiếp tục dũng cảm lên tiếng vì lợi ích chung của xã hội, cộng đồng và nhân loại, dù là họ ở Pháp, ở Việt Nam hay ở bất cứ đâu.”</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông còn nhận xét &#8220;<em>Những người trí thức Việt Nam phải tranh đấu thôi. Họ phải đoàn kết lại. Họ phải xuất bản những tạp chí, những trang web mà tại đó họ phải phản biện, phải có đầu óc phê phán. Đương nhiên điều đó là không đơn giản. Nhưng người ta chỉ có thể bắt bớ một, hay một vài người thôi, chứ làm sao có thể bắt bớ cả một dân tộc được? Điều đó là không thể</em>!&#8221;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Được đài BBC phỏng vấn về ý kiến nói trên, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện cho biết hiện nay đang là lúc Việt Nam &#8220;hơn bao giờ hết&#8221; cần đến tiếng nói phản biện xã hội của giới trí thức để giúp cho xã hội chuyển biến &#8220;ngày một tốt đẹp.&#8221;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Diện cho rằng trí thức hiện nay cần phải có hai yếu tố: &#8220;<em>Thứ nhất là tinh thần tự nguyện. Tự nguyện tức là tự gánh vác lấy. Không chờ là mình phải có chức vụ; không chờ mình được sai bảo hay phân công thì mới lên tiếng. Và thứ hai, ngoài vấn đề tự nguyện, thì phải có sự dấn thân. Tức là phải tham gia vào việc phản biện xã hội, để cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn lên.”</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Nô Lệ Tư Tưởng</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đầu năm 2006, trên diễn đàn BBC ông Nguyễn Trung cho rằng đang là “thời cơ vàng” để đảng Cộng sản đổi mới. Ông tự đặt câu hỏi “kẻ thù đối với vai trò lãnh đạo của Đảng ta là ai?” Người viết đã góp ý như sau “kẻ thù của đảng Cộng sản chính là chủ nghĩa Mác – Lê”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cái khó nhất để làm người tự do là phải lột bỏ tư tưởng nô lệ. Chính việc ông Mác đề cao đấu tranh giai cấp và lấy mục tiêu xã hội cộng sản làm tiêu chí cho mọi suy nghĩ và hành động, mà ngày nay đảng Cộng sản mới phải lâm vào tình trạng tồn tại trong suy thóai. Nói theo Giáo sư Bảo Châu là “chết lâm sàng”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Không nhận ra thân phận nô lệ tư tưởng, đảng Cộng sản lại công khai cho rằng tự phê bình và phê bình là đủ để họ trở nên trong sạch hơn và sáng suốt hơn. Lẽ ra họ phải mở rộng phê phán giữa lý thuyết với thực tiễn thì mới dứt bỏ được tư tưởng nô lệ. Không nhận đúng bệnh thì thuốc uống chỉ rút ngắn ngày tàn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đầu năm nay sống ở hai thế giới khác nhau một cộng sản một tự do, ông Nguyễn Trung và người viết, khi nghĩ về đất nước lại cùng chung những ước mơ (1) Con người tự do; (2) Thể chế chính trị dân chủ; (3) Đất nước có hòa bình ổn định; và (4) Tất cả dựa trên căn bản của một nền giáo dục chân chính.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cùng những ước mơ thế nhưng giữa hai người lại có hai hướng giải quyết khác nhau. Ông Trung kêu gọi khép lại quá khứ. Trong khi người viết lại tin rằng vai trò của người trí thức không những chỉ để tìm ra sự thật hiện tại. Người trí thức Việt Nam còn phải truy tìm, làm sáng tỏ và phổ biến những sự thực lịch sử. Có xây dựng được một lịch sử khách quan trung thực thì vết thương dân tộc mới có cơ may khép lại để chúng ta cùng hướng đến tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><br />
</strong><strong>Trí Thức Chống “Đảng”</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhà báo Lê Phú Khải còn cho biết cá nhân ông không cần sự lãnh đạo của “Đảng” vì thế đã từ chối vào “Đảng”. Vì Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam nằm dưới sự lãnh đạo toàn diện, triệt để và trực tiếp của “Đảng”. Sự phủ nhận độc quyền lãnh đạo của “Đảng” đồng nghĩa với chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Việc chống “Đảng”, chống nhà nước cộng sản ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống cả tinh thần lẫn vật chất. Thậm chí còn ảnh hưởng đến đời con đời cháu người chống “Đảng”. Bởi thế theo người viết những người trí thức dứt khóat không chấp nhận sự lãnh đạo của đảng Cộng sản thật hiếm, thật đáng quý, thật đáng trân trọng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><br />
</strong><strong>Khi Giáo Sư Trung Hoa Lên Tiếng</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng lại ngày đầu xuân trong khi giới trí thức Việt Nam đang tranh luận về vai trò của trí thức thì hàng trăm dân Hồng Kông đã tụ tập biểu tình bày tỏ sự phẫn nộ về lời phát ngôn của một giáo sư lục địa gọi họ là con hoang, là đồ chó. Phát xuất từ những va chạm ngôn ngữ, tập quán, pháp lý và văn hóa giữa dân Hồng Kông và dân Lục Địa ngày một gia tăng, Giáo sư Khổng Khánh Đông đã chính thức lên Đài Truyền Hình Trung Ương (V1CN) dùng những ngôn ngữ thô tục nói trên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điều cần nói là giáo sư Khổng Khánh Đông, đang dạy môn Trung Văn tại Viện đại học Bắc Kinh, ông là cháu đời thứ 73 của Khổng Tử. Khổng Học lại là một môn học đang được nhà cầm quyền Bắc Kinh công khai tài trợ. Các Viện Khổng Học đang mọc lên như nấm để truyền bá Khổng Học theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa và mang sắc thái Trung Hoa Cộng sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng may nền Khổng Học nói trên này vẫn còn rất phôi thai tại Việt Nam vì văn hóa Việt Nam không thể chấp nhận các nhà khoa bản ăn thô nói tục như ông Khổng Khánh Đông. Người viết tự tin không mấy người Việt xem ông ta là người trí thức.<strong> </strong></span></p>
<p><span style="font-size: medium;"><strong><img class="aligncenter" style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-48-MAR-4-INTELLECT-1-9-.jpg" alt="" width="100" height="102" /></strong></span><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><br />
Tạm Kết</strong><strong> </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đầu Xuân Nhâm Thìn rõ ràng các trí thức Việt Nam đang nhập cuộc dấn thân. Họ bao gồm cả những trí thức từ Phương Tây trở về hay những người đã được đào tạo trong hệ thống cộng sản trước đây. Qua cuộc tranh luận về vai trò trí thức chúng ta có thể thấy được sự khác biệt giữa trí thức theo “Đảng” và trí thức chống “Đảng”, giữa trí thức Ta và trí thức Tây, giữa trí thức cổ hủ và trí thức dấn thân. Thật ra còn nhiều lọai trí thức khác. Tìm hiểu, phê phán nhưng tôn trọng lẫn nhau đó chính là điểm son của những người trí thức Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Qua đó chúng ta có thể thấy rõ trách nhiệm của người trí thức ngày nay và tương lai có những ưu tiên khác nhau. Người trí thức hôm nay cần nhận vai trò dấn thân xây dựng môi trường tự do để Việt Nam không chết lâm sàng. Người trí thức mai sau lãnh trách nhiệm xây dựng và phát triển quốc gia.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Người trí thức Việt Nam như những cánh én báo một mùa xuân về cho dân tộc. Người trí thức đưa đất nước đi lên.</span></p>
<div style="text-align: justify;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Nguyễn Quang Duy</span></strong></span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><br />
Melbourne, Úc Đại Lợi</span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">29/1/2012</span></div>
<div>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/ng%c6%b0%e1%bb%9di-tri-th%e1%bb%a9c-d%c6%b0a-d%e1%ba%a5t-n%c6%b0%e1%bb%9bc-di-len/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nhìn lại Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc và Cải Cách Điền Địa Miền Nam</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/nhin-l%e1%ba%a1i-c%e1%ba%a3i-cach-ru%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-mi%e1%bb%81n-b%e1%ba%afc-va-c%e1%ba%a3i-cach-di%e1%bb%81n-d%e1%bb%8ba-mi%e1%bb%81n-nam/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/nhin-l%e1%ba%a1i-c%e1%ba%a3i-cach-ru%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-mi%e1%bb%81n-b%e1%ba%afc-va-c%e1%ba%a3i-cach-di%e1%bb%81n-d%e1%bb%8ba-mi%e1%bb%81n-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 05:04:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator>TS. Nguyen van Tran</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[LỊCH SỬ - VĂN HOÁ - GIÁO DỤC]]></category>
		<category><![CDATA[Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc]]></category>
		<category><![CDATA[Cải Cách Điền Địa Miền Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35172</guid>
		<description><![CDATA[Nhìn lại Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc
và Cải Cách Điền Địa Miền Nam
Bao giờ tội chống nhân loại của Hồ Chí Minh và tập đoàn cầm quyền cộng sản Hà Nội được đem ra xét ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: x-large;"><strong><img style="float: left; margin-left: 8px; margin-right: 8px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTTZFEB-3.-HCMQUYXANH-LuoiLiem.jpg" alt="" width="100" height="113" />Nhìn lại Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc<br />
và Cải Cách Điền Địa Miền Nam</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bao giờ tội chống nhân loại của Hồ Chí Minh và tập đoàn cầm quyền cộng sản Hà Nội được đem ra xét xử? (*)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chiến tranh chống thực dân pháp giành độc lập kết thúc bằng Hiệp định đình chiến ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Genève chia Việt nam làm hai Miền riêng biệt. Miền Bắc theo chế độ cộng sản dưới quốc hiệu Việt nam Dân chủ Cộng hòa. Miền Nam đứng về phía thế giới tự do.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày 23 tháng 10 năm 1955, một cuộc trưng cầu dân ý đã được tổ chức tại Miền Nam và kết quả đã đưa tới truất phế Vua Bảo Đại. Triều đại Nhà Nguyễn thật sự chấm dứt. Hiến pháp 26 tháng 10 năm 1956 tấn phong ông Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống Miền Nam và thành lập nước Việt Nam Cộng hòa.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chín năm chiến tranh giải thực kết thúc, hòa bình trên 2 miền Nam Bắc được tái lập. Chánh quyền 2 Miền đều dồn nỗ lực tái thiết đất nước theo đường lối riêng của mỗi chế độ chánh trị. Phát triển kinh tế là ưu tiên mà Chánh sách về Ruộng đất là quan trọng vì Việt Nam vốn là xứ nông nghiệp. Ruộng đất nuôi sống gần 80% dân Việt Nam. Có một Chánh sách Ruộng đất tốt, hài hòa, hợp lý là để xóa bỏ những bất công xã hội do chế độ thực dân tạo ra từ khi Việt nam bị đô hộ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở Miền Bắc, Hồ chí Minh thực hiện chánh sách về ruộng đất gọi là “Cải cách Ruộng đất ”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">còn ở trong Miền nam gọi là “Cải cách Điền địa”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chúng ta thử nhìn lại và so sánh hai chánh sách về đất đai của hai Miền, nêu lên những đặc tính và mục tiêu của chánh sách ấy.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="https://encrypted-tbn3.google.com/images?q=tbn:ANd9GcSZFi0ZC2_nJtOTZO1nosLzmZzD47lPiUK3WC0tc1WqokbWcDiw" alt="" width="368" height="274" /><img src="https://encrypted-tbn0.google.com/images?q=tbn:ANd9GcQsM9mCmVmSt4hpURKJqQLf_UWMAvx-N9-ih-rI6VIYz_0c9R8f" alt="" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>I -C</strong><strong>ả</strong><strong>i cách Ru</strong><strong>ộ</strong><strong>ng đ</strong><strong>ấ</strong><strong>t </strong><strong>ở</strong><strong> Mi</strong><strong>ề</strong><strong>n B</strong><strong>ắ</strong><strong>c</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>1-Tình hình m</strong><strong>ớ</strong><strong>i, nhi</strong><strong>ệ</strong><strong>m v</strong><strong>ụ</strong><strong> m</strong><strong>ớ</strong><strong>i</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Năm 1950, Hồ Chí Minh qua Nga, yết kiến Staline với sự hiện diện của Mao-trạch-đông. Staline chỉ ông 2 cái ghế và nói “đây là ghế địa chủ, đây là ghế nông dân. Ông chọn ngồi vào ghế nào?”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trở về nước, Hồ Chí Minh không thuật lại với cán bộ nồng cốt của ông là ông đã chọn chiếc ghế nào mà chuẩn bị ngay việc thực hiện cải cách ruộng đất bắt đầu bằng chuẩn bị tư tưởng cán bộ đảng viên để trong công tác, cán bộ sẽ không bị giao động. Ông đưa ra nhận xét tình hình thế giới thuận lợi. Mao-trạch-đông thắng lợi ở Tàu và thiết lập xong chế độ cộng sản trên cả nước. Cách mạng Việt nam đang trên đà thắng lợi. Duy còn khó khăn nhỏ là Mỹ giúp thực dân pháp đánh phá đoàn kết dân tộc. Muốn thắng lợi hoàn toàn, ta phải cùng với nhân dân thực hiện một chế độ dân chủ nhân dân, tăng cường đoàn kết toàn dân, liên kết chặt chẽ với phe xã hội chủ nghĩa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cuối năm 1952, Hồ Chí Minh cho tiến hành cải cách ruộng đất ở những vùng tạm chiếm như Thái nguyên, Thanh hóa, … Nhiều cuộc hành huyết địa chủ bắt đầu trước ở Thanh hóa đã làm kinh hoàng dân chúng, lan rộng đến những vùng “giải phóng” khác. Kịp gần đến ngày ký Hiệp định Genève, Hồ Chí Minh muốn tránh bị dân chúng bỏ chạy vào Nam vì sợ hải nên cho lệnh tạm ngưng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thật ra, kế hoạch chuẩn bị tư tưởng, Hồ chí Minh đã cho tiến hành từ lâu. Trước nhất là chính huấn hay đấu chính trị. Từ 1946 -1949 là chiến dịch phản đế, với khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết”, kêu gọi đoàn kết toàn dân gồm trí thức, tư sản, địa chủ, tôn trọng tư hữu, chỉ nhằm xóa bỏ ảnh hưởng văn hóa pháp biểu hiện qua tư tưởng lãng mạn, cá nhân chủ nghĩa. Mục đích duy nhứt là chống thực dân pháp giành độc lập. Hồ Chí Minh giải tán đảng cộng sản đông dương, thành lập Mặt trận Việt Minh. Giai đoạn kế tiếp 1950-1956 dành cho chiến dịch phản phong đả phá tư tưởng phong kiến nặng về tư hữu, nhứt là sở hữu ruộng đất, trật tự xã hội, giá trị đạo lý cổ truyền để đề cao và thuyết phục chánh sách Cải cách Ruộng đất sẽ phát động là đúng, là tốt, ích lợi cho nông dân để mọi người phải chấp nhận. Phản phong được thực hiện với khẩu hiệu “đưa phản phong lên ngang hàng với phản đế”, đồng thời Hồ Chí Minh cho tổ chức đảng Lao động thay thế đảng cộng sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Phản phong khi được phát động, dân chúng đều hiểu đó là bài trừ những phần tử phong kiến trong đảng hoặc giới quan lại trong Chánh quyền cũ. Thật ra, phản phong là tiêu diệt địa chủ, điều này chỉ có cán bộ học tập ở bên Tàu về để thi hành Cải cách Ruộng đất mới hiểu, nhưng phải tuyệt đối giữ kín Khóa chính huấn đầu tiên khai giảng năm 1953 ở Miền bắc mới nói rõ nội dung khẩu hiệu phản phong là đánh địa chủ, tịch thu toàn bộ tài sản của địa chủ chia cho bần cố nông, tức Cải cách Ruộng đất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau phản phong đến chiến dịch bài trừ tư tưởng tư sản, tự do kinh doanh, tư tưởng dân chủ tư bản tây phương. Tiếp theo, từ năm 1959, sau khi sửa sai vì xem như Cải cách Ruộng đất đã thật sự hoàn tất, Hồ chí Minh cho áp dụng chánh sách triệt để hơn, dẹp bỏ hẳn tư tưởng tiểu tư sản, mọi hình thức sản xuất cá thể, xử lý những thành phần chưa chịu vào hợp tác xã, giữ đầu óc muốn làm giàu riêng. Bần cố nông vừa nhận ruộng đất do Cải cách Ruộng đất cấp phát, nay lại phải đem nộp cho Hợp tác xã.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="https://encrypted-tbn1.google.com/images?q=tbn:ANd9GcT4gw5uV20-zHh-fo1vYvfmtIIXJRGGLlhbQiUsH7O20_sOuswL6A" alt="" /><img src="https://encrypted-tbn0.google.com/images?q=tbn:ANd9GcSZ1rCAsLYeCfrqiO3bebG-TccARnthAjK9kM7-YoXT5B20PxhjPA" alt="" width="293" height="195" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>2- Phóng tay phát đ</strong><strong>ộ</strong><strong>ng qu</strong><strong>ầ</strong><strong>n chúng</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cải cách Ruộng đất long trời lở đất “không do đảng và Nhà nước, mà do nông dân làm”. Để bắt đầu, Hồ Chí Minh cho tiến hành trước 2 chiến dịch: thu thuế nông nghiệp và đấu tranh chánh trị.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Áp dụng thuế nông nghiệp là lặp lại rặp khuôn theo Tàu đã làm từ 2 năm trước nhằm bần cùng hóa xã hội Việt Nam, biến nông dân trở thành bần cố nông. Thuế nông nghiệp là 1 trong 5 loại thuế: thuế nông nghiệp, công thương nghiệp, sát sanh, lâm thổ sản, xuất nhập cảng – Thuế xuất nhập cảng là để khôi hài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Thuế nông nghiệp – Riêng về thuế nông nghiệp, chúng ta thử nhìn lại sơ lược để có ý niệm cụ thể nông dân bị phá sản. Thuế sẽ đánh 5% trên 100 kg lúa, 45% cho 1000 kg lúa trở lên, tối đa là 64%. Thêm vào đó, nông dân trả phụ thu cho đảng 15%. Cả 2 thứ thuế phải nộp một lần, cho đảng và Nhà nước Việt nam dân chủ Cộng hòa và một phần gởi cho Kominforme làm nghĩa vụ quốc tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thử làm bài toán để biết nông dân nộp bao nhiêu mồ hôi nước mắt cho thuế nông nghiệp. Chúng ta lấy 1000 kg lúa. Thuế lấy 45% là 450 kg. Trên số này, nông dân bị trừ 15% thuế phụ thu là 67,5 kg. Nông dân phải nộp thuế nông nghiệp cho 1000 kg lúa thu hoạch được là 517, 30kg. Nếu chủ ruộng không trực tiếp canh tác phải nộp thêm 25% phụ thu nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Diện tích ruộng canh tác và số lúa thu hoạch phải do nông dân bình. Về diện tích ruộng, không căn cứ theo địa bạ lưu giữ. Nông dân bình thường được kích lên, tức bình dọc, bình ngang về diện tích canh tác để qui ra số lúa phải gặt được để trả thuế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Còn thuế công thương nghiệp chỉ có 28% trên lợi tức, nhưng cũng phải do nhân dân bình theo cùng qui cách dọc và ngang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tố Hữu, nhà thơ của đảng, được thưởng huy chương Sao Vàng Hồ Chí Minh, cổ vũ chiến dịch thu thuế trong Cải cách Ruộng đất:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>“Gi</em><em>ế</em><em>t, gi</em><em>ế</em><em>t n</em><em>ữ</em><em>a, bàn </em><em>tay không phút ngh</em><em>ỉ</em><em><br />
</em><em>Cho ru</em><em>ộ</em><em>ng đ</em><em>ồ</em><em>ng lúa t</em><em>ố</em><em>t, thu</em><em>ế</em><em> mau xong</em><em><br />
</em><em>Cho đ</em><em>ả</em><em>ng b</em><em>ề</em><em>n lâu,cùng r</em><em>ậ</em><em>p b</em><em>ướ</em><em>c chung lòng,</em><em><br />
</em><em>Th</em><em>ờ</em><em> Mao ch</em><em>ủ</em><em> t</em><em>ị</em><em>ch, th</em><em>ờ</em><em> Sít-ta-lin b</em><em>ấ</em><em>t di</em><em>ệ</em><em>t”.</em><em><br />
</em><em>T</em><em>ố</em><em> H</em><em>ữ</em><em>u</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Đấu tranh chánh trị – Đấu tranh chánh trị là nhằm thủ tiêu tất cả phần tử bị xem là phản động. Lúc bấy giờ, dân chúng ai chống Việt minh thì hoặc bị giết hoặc bỏ đi ra Thành phố sanh sống. Chỉ còn lại những người lưng chừng. Mà lưng chừng là phản động.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bây giờ, chúng ta thử tìm hiểu thực chất của « đấu tranh chánh trị » diễn ra liền sau thuế nông nghiệp.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Lợi dụng trong lúc dân chúng còn đang điêu đứng vì thiếu thuế, cán bộ cho tập họp để giải quyết trường hợp còn thiếu thuế. Sự thật là nhằm tiêu diệt những thành phần bị ghi vào danh sách cần phải thanh toán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Phòng họp trang bị đầy đủ dụng cụ tra tấn. Cán bộ chủ tịch xã kêu gọi một người thiếu thuế hỏi: “Có phải thằng X xui mày không nộp thuế không?” Tra tấn cho đến khi nào người này gật đầu để tên X bị bắt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đến phiên tên X bị tra tấn: “Mày ở trong tổ chức phản động nào? Phải trong đó có tên Y không?” Người bị tra tấn vì đau đớn khai bừa “Tôi ở trong đảng Bảo Đại, cả đảng Cộng sản nữa” cho đến khi nào chịu nói ra tên người đã được cán bộ mớm trước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Lúc đầu còn nhớ tên người được dặn trước phải khai, sau mất tinh thần, nhớ đâu khai đó. Có người khai cả tên cán bộ chủ tọa phiên đấu chánh trị. Đến đây, đảng cộng sản nhận thấy nếu kéo dài sẽ gây ảnh hưởng xấu cho đảng, làm mất lòng tin của nhân dân đối với đảng, Chánh phủ. Đảng cộng sản bèn cho tổ chức Tòa án nhân dân xét xử phản động bắt được trong chiến dịch đấu chánh trị để xác nhận là thật sự có địch trong nông thôn và mặt khác, đề cao quần chúng luôn luôn sáng suốt, như Mao-trạch-đông dạy. Trong quá trình đấu chánh trị, nếu có vài trường hợp phạm sai lầm nhưng phải thấy chủ trương là đúng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>” …Đ</em><em>ị</em><em>a hào, đ</em><em>ố</em><em>i l</em><em>ậ</em><em>p r</em><em>a tro<br />
L</em><em>ư</em><em>ng ch</em><em>ừ</em><em>ng, ph</em><em>ả</em><em>n đ</em><em>ộ</em><em>ng đ</em><em>ế</em><em>n gi</em><em>ờ</em><em> tan x</em><em>ươ</em><em>ng</em><em><br />
</em><em>Th</em><em>ắ</em><em>p đu</em><em>ố</em><em>c cho sáng kh</em><em>ắ</em><em>p đ</em><em>ườ</em><em>ng,</em><em><br />
</em><em>Th</em><em>ắ</em><em>p đu</em><em>ố</em><em>c cho sáng đình làng đêm nay</em><em><br />
</em><em>Lôi c</em><em>ổ</em><em> b</em><em>ọ</em><em>n nó ra đây</em><em><br />
</em><em>B</em><em>ắ</em><em>t quì g</em><em>ụ</em><em>c xu</em><em>ố</em><em>ng, đ</em><em>ọ</em><em>a đày ch</em><em>ế</em><em>t thôi”</em><em><br />
</em><em>Xuân Di</em><em>ệ</em><em>u</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Quần chúng phóng tay – Còn Cải cách Ruộng đất thật sự được tiến hành làm 2 đợt: giảm tô và cải cách. Cải cách Ruộng đất diễn tiến long trời lở đất này đã được nói nhiều với đầy đủ chi tiết nên thiết tưởng không cần lập lại thêm nữa. Duy có con số tử vong chính xác của nạn nhân chưa được xác nhận. Ngày nay, theo báo cáo chánh thức của Viện thống kê Hà nội***, số tử vong là 172 008 người trong đó có 70 % bị chết oan ức bao gồm những tiểu địa chủ bị kích lên cho đủ 5 % theo tiêu chuẩn của Trung quốc qui định, những cán bộ đảng viên đi theo kháng chiến chống thực dân vì lòng yêu nước tinh ròng không cộng sản. Nhưng con số tử vong thật sự phải cao hơn. Nhiều người từng sống trong giai đoạn Cải cách Ruông đất, như nhà báo Bùi Tín, cựu Phó Tổng biên tập nhật báo Nhân Dân, cho biết, theo ước tính, con số nạn nhân ít nhất phải lên đến nửa triệu bao gồm nạn nhân bị hành huyết độc đoán tại hiện trường qua quyết định của Tòa án nhân dân và những người như nạn nhân không bị hành huyết hoặc gia đình, thân nhân của nạn nhân. Những người này bị đuổi ra khỏi nhà, tài sản bị tịch thâu, không có quyền làm việc, bị mọi người xa lánh vì sợ bị liên lụy với giai cấp địa chủ, lần lược chết vì đói rét, bịnh tật do chế độ quản lý hộ khẩu. Trong số nạn nhân này có ít nhất 40 000 đảng viên Cải cách ruộng đất, theo Mao-trạch-đông dạy, phải bộc lộ sự tàn ác càng rùng rợn thì thành công càng lớn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Mỗi chiến dịch đều được chuẩn bị bằng khóa chính huấn dạy cán bộ học tập lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, để cán bộ thi hành nắm vững đường lối, chánh sách đúng theo sách lược mao-trạch-đông Toàn bộ các chiến dịch đều đã được thực hiện ở bên Tàu từ mấy năm trước, mệnh danh là “Chiến thuật mao-trạch-đông” vì Mao-trạch-đông tin rằng chiến thuật này có thể áp dụng ở các nước kém mở mang, cơ bản là kinh tế nông nghiệp, để thực hiện cuộc cách mạng vô sản. Vẫn theo Mao-trạch-đông, chỉ có giai cấp bần nông và cố nông là lực lượng mạnh nhất, sáng suốt nhất, có đủ khả năng lãnh đạo cuộc cách mạng vô sản đi đến thành công. Mà địa chủ là kẻ thù của nông dân. Chỉ có nông dân mới biết rõ địa chủ nào là gian ác, và gian ác đến mức độ nào nên phải phóng tay phát động quần chúng tố khổ và trị tội bọn địa chủ ác ôn. Đảng cộng sản chỉ giữ nhiệm vụ hướng dẫn, không trực tiếp lãnh đạo</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sửa sai vì Cải cách Ruộng đất đã thành công nên cần bình thường hóa tình hình nông thôn, chuẩn bị đưa sản xuất vào chế độ tập thể hóa, tiến hành xây dựng chế độ chuyên chính vô sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Từ năm 1951, theo nhà báo Bùi Tín, Hồ Chí Minh đã ngã hẳn theo Tàu, rặp khuôn theo đường lối mao-trạch-đông.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong một buổi tường trình chuyến thăm viếng Staline hồi năm 1950 với cán bộ lãnh đạo đảng khi ông về nước, Hồ Chí minh không nói rõ ông đã chọn “ghế nông dân hay ghế địa chủ” để trả lời Staline mà chỉ nhấn mạnh: “chúng ta làm Cải cách Ruộng đất phải học tập kinh nghiệm Trung quốc”. Ông dạy cán bộ đảng viên “Đế quốc là con hổ, địa chủ là bụi rậm hổ ẩn núp. Muốn đánh hổ phải tiêu diệt bụi rậm”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Không riêng gì về Cải cách Ruộng đất, Hồ Chí Minh mới học kinh nghiệm Trung quốc, mà cả các ngành khác, Hồ Chí Minh cũng chủ trương học tập rặp khuôn theo mô hình trung quốc như về giáo dục, sản xuất, kinh tế nghiên về kỹ nghệ nặng, …để “nhảy vọt” theo. Ông viết quyển “Những kinh nghiệm quí báu Trung quốc nên học” dưới bút danh Trần Lực, do nhà Sự Thật, Hà nội, xuất bản năm 1950, để làm tài liệu cho cán bộ học tập.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>II- C</strong><strong>ả</strong><strong>i cách Đi</strong><strong>ề</strong><strong>n đ</strong><strong>ị</strong><strong>a </strong><strong>ở</strong><strong> Mi</strong><strong>ề</strong><strong>n Nam</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở trong miền Nam, không nói Cải cách Ruộng đất mà nói Cải cách Điền địa. Trong 20 năm, từ 1955-1975, Miền nam tiến hành 2 cuộc Cải cách Điền địa. Không kể một cuộc Cải cách Điền địa do Cựu Hoàng Bảo Đại ban hành năm 1949, nhưng không thành công. Ruộng đất vừa được phân phối xong thì liền bị Việt Minh tịch thâu, hoặc Việt Minh ngăn cấm nông dân nhận ruộng hoặc làm ruộng. Mặt khác, chiến tranh không cho phép nông dân sanh sống trên phần đất của mình, phải tản cư.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cải cách Điền địa ở Miền Nam thực hiện từ khi Tổng thống Ngô Đình Diệm nắm quyền bằng Dụ số 57 ngày 22 tháng 10 năm 1956. Chánh sách điền địa thêm một lần nữa được Tổng thống Nguyễn văn Thiệu tiếp nối rốt ráo hơn bằng Đạo luật số 003/70 ngày 23 tháng 03 năm 1970, dưới tên gọi mới là Luật Người Cày Có Ruộng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>1 -Cải cách điền địa</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Ngô Đình Diệm, ngày 7 tháng 7 năm 1955, được bổ nhiệm làm Thủ tướng Chánh phủ. Ở chức vụ Thủ tướng Chánh phủ, ông ban hành 2 Dụ, số 2 và số 7 năm 1955, liên quan đến vấn đề thuê ruộng vì từ trước, ở Việt Nam, việc thuê ruộng không có giấy tờ hợp đồng giữa người thuê mướn và chủ ruộng nên thường chủ ruộng lấn ép làm thiệt hại quyền lợi của người thuê. Giá thuê ruộng từ 40% đến 60%, tùy theo ruộng tốt xấu, trên số lúa thu hoạch. Luật về thuê ruộng qui định lại rỏ qui chế tá điền. Từ nay, – giá thuê ruộng từ 10 đến 15% trên số lúa thu hoạch cho ruộng làm 1 mùa / năm;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- giá thuê từ 15 đến 25% cho mùa gặt chánh của ruộng 2 mùa / năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thời hạn hợp đồng là 5 năm, có tái ký. Tá điền có quyền trả ruộng và phải báo trước chủ ruộng 6 tháng. Chủ ruộng muốn lấy ruộng lại phải báo trước tá điền 3 năm.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vì chiến tranh nhiều người bỏ ra thành thị sanh sống nên số ruộng bỏ hoang tính ra lên đến 500 000 mẫu tây. Trong thời gian Chánh phủ cho kiểm kê, nếu chủ ruộng vẫn vắng mặt, số ruộng này bị trưng thu để cấp phát cho tá điền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau khi lên làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm ban hành Dụ số 57 ngày 22 tháng 10 năm 1956 qui định Chánh sách Cải cách Điền địa theo đó, điền chủ có quyền giữ cho mỗi người 100 mẫu đất, phải canh tác 30%, số còn lại cho mướn theo điều kiện luật hợp đồng đã ban hành.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng truất hữu, chủ ruộng được bồi thường theo giá ruộng, 10% bằng tiền mặt, 90% trả bằng trái phiếu với lãi xuất 3% / năm. Người giữ trái phiếu có quyền sử dụng trong các dịch vụ như trao đổi, kinh doanh, mua bán, …</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng truất hữu bán lại cho tá điền trả góp trong 12 năm vốn và lãi xuất 3% như đối với điền chủ cũ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Có lối 1035 điền chủ bị truất hữu vì mỗi người có trên 100 mẫu. Diện tích ruộng truất hữu là 430 319 mẫu, tính thêm 220 813 mẫu của pháp kiều. Năm 1958, tổng số ruộng truất hữu là 651 132 mẫu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Số tá điền trở thành điền chủ từ năm 1957-1963 là 123 193 người. Ngoài ra còn 2857 người mua trực tiếp từ chủ ruộng, nâng con số điền chủ – mỗi người có tối thiểu 5 mẫu – lên 126 050 người. Và số ruộng mua riêng này là 252 213 mẫu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chánh sách Cải cách Điền địa ở trong Nam làm cho chủ ruộng và tá điền đều hài lòng. Số ruộng đất bị Việt Minh trước đây tịch thu phát cho tá điền vì chủ ruộng vắng mặt, nay Chánh quyền đem trả lại cho chủ và bồi hoàn tiền nếu bị truất hữu.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="https://encrypted-tbn0.google.com/images?q=tbn:ANd9GcRRstPZFa1mG5hpjl84WJ7Bys8RezD11_t7doPZMQMUSq_7UjXKaA" alt="" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>2- Dinh Đi</strong><strong>ề</strong><strong>n và Khu Trù m</strong><strong>ậ</strong><strong>t</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tiếp theo Chánh sách Cải cách Điền địa, Chánh quyền Đệ I Cộng Hòa ban hành Chánh sách Dinh Diền và Khu Trù mật. Huê kỳ, Pháp và Tổ chức Y Tế Quốc tế giúp thực hiện Chương trình này. Chỉ trong vòng từ 1957-1961, Chánh phủ thành lập được 169 Trung tâm định cư đồng bào di cư trong đó có 25 Khu Trù mật, tập trung ở vùng đồng bằng sông Cữu long. Dinh Điền phục hồi hoặc khai thác những vùng đất bị bỏ hoang hoặc đất mới khai phá, đem lại cho đồng bào 109 379 mẫu, nuôi sống 50 000 gia đình gồm 250 400 người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khu Trù mật là nơi tập trung dân sống hẻo lánh, thiếu phương tiện cần thiết cho đời sống như chợ búa, trường học, trạm xá y tế, điện, nước, …Mỗi Khu Trù mật gồm từ 3000 đến 3500 người.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Một ngân hàng nông thôn, Quốc Gia nông tín cuộc, được thành lập để yểm trợ Chương trình Dinh Điền và Khu Trù mật bằng cách cho vay với lãi xuất nhẹ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cải cách Điền Địa, Dinh Diền và Khu Trù mật đã biến 176 130 gia đình nông dân nghèo trở thành chủ ruộng đất từ ít nhất 1 mẫu trở lên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sản xuất ở các Khu Trù mật dần dần vượt qua khuôn khổ địa phương nhỏ hẹp để trao đổi trên qui mô vùng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước đời sống an lành của người dân, cộng sản bám trụ ở lại sau Hiệp định Genève xuất hiện và phản ứng thô bạo. Họ ngăn cấm dân mua ruộng truất hữu, cấm ký hợp đồng thuê ruộng, hủy bỏ địa tô, ám sát nhân viên Chánh quyền ở nông thôn như nhân viên Ngân hàng, Y tế, Giáo dục, …</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Còn lại hơn 400 ngàn mẫu đất đã truất hữu để tư hữu hóa cho nông dân, nhưng bị áp lực khủng bố của cộng sản phải bỏ hoang. Từ đây, năm 1958, cộng sản Hà nội bắt đầu dựng lên cuôc chiến trong Miền Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>III- C</strong><strong>ả</strong><strong>i cách Đi</strong><strong>ề</strong><strong>n đ</strong><strong>ị</strong><strong>a và Lu</strong><strong>ậ</strong><strong>t Ng</strong><strong>ườ</strong><strong>i Cày Có Ru</strong><strong>ộ</strong><strong>ng</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tổng thống Nguyễn văn Thiệu thực hiện Cải cách Điền địa bằng 2 giai đoạn: áp dụng luật cũ 57 và ban hành thêm Luật Người Cày Có Ruộng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">1 – Từ năm 1967-1970, ông Thiệu cho tiếp tục áp dụng Luật Cải cách Điền địa cũ của thời Đệ nhất Cộng hòa. Sau vụ Việt cộng tổng công kích Mậu thân thất bại, nông thôn trở lại có an ninh. Số ruộn trước đây bị bỏ hoang nay đem cấp phát cho nông dân. Từ 1967 đến 1969, cò thêm 261 874 gia đình dược cấp ruộng để canh tác, nâng tổng số tá điền trở thành chủ điền lên 438 004 người, vị chi 48% nông dân nghèo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">2 – Phát triển kinh tế nông nghiệp. Chánh quyền cho tổ chức lại ngân hàng nông thôn Nhà nước, đồng thời ngân hàng nông thôn tư cũng ra đời để kịp đáp ứng nhu cầu phát triển. Bộ Canh nông nghiên cứu tạo giống lúa mới, khuyến khích khuếch trương nghành chăn nuôi gia súc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chánh quyền tuyển dụng thanh niên đào tạo cán bộ xây dựng nông thôn gởi về vùng quê để hướng dẩn, giúp đở kỷ thuật cho nông dân trong sanh hoạt hằng ngày, …</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">3 – Luật Người Cày Có Ruộng. Ngày 26 thánh 03 năm 1970, Luật Người Cày Có Ruộng ban hành, áp dụng cho mọi thành phần điền chủ. Luật Người Cày có Ruộng khác với Luật 57 thời Đệ nhất Cộng hòa. Điền chủ tự làm ruộng của mình, nhưng số ruộng quá 15 mẫu, bị truất hữu. Trong vòng 3 năm, 1970-1973, có 51 695 điền chủ bị truất hữu tổng số ruộng là 770 145 mẫu, được chia ra như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- 22 560 điền chủ nhỏ với 61 634 mẫu truất hữu ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- 16 449 trung điền chủ, với 158 110 mẫu truất hữu ;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- 12 695 đại điền chủ, với 550 401 mẫu truất hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Luật Người Cày Có Ruộng chi phối số điền chủ có 15 mẫu trở lên. Thành phần điền chủ này chiếm 56% tổng số điền chủ, với 91, 9 % của tổng số diện tích ruộng bị truất hữu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng bị truất hữu được bồi thường 20% tiền mặt, còn lại 80% trả bằng trái phiếu, lời 10% / năm trong 8 nă.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tiêu chuẩn cấp phát ruông truất hữu: 3 mẫu cho Miền Nam, 1 mẫu cho Miền Cao nguyên và Miền Trung.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng hương hỏa và của tôn giáo không bị chi phối bỡi Luật Người Cày Có Ruộng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước khi Hà nội hợp tác hóa đất đai sau Cải cách Ruộng đất, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Miền Nam chỉ gồm tiểu điền chủ có từ 0, 10 – 5 mẫu và trung điền chủ có trên 5 mẫu ruộng trở lên. Giới đại điền chủ hầu như không còn nữa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nông dân bắt đầu trang bị cơ giới để canh tác, nhập cảng phân bón, cải tiến giống lúa, tăng gia sản xuất gia súc, …</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>IV -Ru</strong><strong>ộ</strong><strong>ng đ</strong><strong>ấ</strong><strong>t d</strong><strong>ướ</strong><strong>i th</strong><strong>ờ</strong><strong>i quân ch</strong><strong>ủ</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Dưới thời quân chủ việt nam, ruộng đất là sở hữu tối thượng của nhà vua. Nhưng trên thực tế, nhà vua đem ruộng đất phân phối cho dân nghèo để cày cấy sanh sống và nộp thuế. Khi cần, nhà vua có thể thu hồi và bồi hoàn cho người đang canh tác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Việt nam có chế độ quân chủ và kéo dài cho đến ngày 25 thánh 08 năm 1945, vua Bảo Đại thoái vị, nhưng Việt Nam tuyệt nhiên không có chế độ phong kiến. Trái lại ở Tàu và Âu châu, có chế độ phong kiến, với quân đội riêng, luật pháp riêng, tài chánh riêng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sở hữu ruộng đất ở việt nam không quá bất bình đẳng như ở nhiều nơi khác. Trước Thế chiến II, theo kết quả điều tra của nhà kinh tế học Yves Henri công bố năm 1932, ruông đất ở Việt nam được phân phối như sau:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bắc kỳ Trung kỳ Nam kỳ</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng đất Địa chủ % Diện tích Địa chủ Diện tích Địa chủ Diện tích</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trên 50 mẫu 0, 10 % 20% 0, 13% 10% 2, 44% 45%</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Từ 5-50 mẫu 8, 35% 20% 6 % 15% 25, 77% 31%</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Dưới 5 mẫu 90, 88% 40% 93, 80% 50% 71, 73% 15%</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Công điền 20% 25% 3%</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tàu trước khi bị cộng sản Mao-trạch-đông cai trị là một nước độc lập nên địa chủ được Chánh quyền bảo vệ. Trái lại, Việt Nam là nước bị thực dân pháp đô hộ nên địa chủ cũng là nạn nhân của Chánh quyền thực dân. Do đó, họ phần đông đứng lên tham gia chống Tây giành độc lập.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Từ thời nhà Hồ, quyền sở hữu ruộng đất đã được giới hạn cho hợp lý. Qua nhà Lê Thái Tổ, chế độ ruộng đất tiếp tục vẫn giữ theo đây.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhà vua cấp phát cho các pháp nhân như làng xã, Hội hè, Tổ chức, …một khoảnh đất để làm của chung khai thác lấy lợi tức trang trải chi phí sanh hoạt. Các đồn điền khi hoàn tất, được nhà vua đem phân phối cho xã thôn nhưng không được phép bán. Trừ trường hợp bất khả khán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ruộng cấp cho dân chúng thì cứ 3 năm / lần, tái cứu xét gia hạn. Ngoài ra còn có những loại công điền khác dành cấp phát cho những trường hợp đặc biệt như : trợ sưu điền giúp dân nghèo đóng thuế, học điền, giúp học trò nghèo đi học, cô nhi quả phụ điền, giúp cô nhi quả phụ và hậu điền là ruộng của người chết không có con cháu thừa hưởng đem hiến cho chùa, đình,…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhờ chế độ quân phân đất đai mà xã hội việt nam ngày xưa được an bình hơn nhiều nơi khác lúc bấy giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>V – Vi</strong><strong>ệ</strong><strong>t Nam có th</strong><strong>ậ</strong><strong>t s</strong><strong>ự</strong><strong> c</strong><strong>ầ</strong><strong>n C</strong><strong>ả</strong><strong>i cách Ru</strong><strong>ộ</strong><strong>ng đ</strong><strong>ấ</strong><strong>t không?</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở Bắc và Trung, ruộng đất không tập trung quá nhiều vào tay một số người nhờ chế độ quân phân tài sản nên không có nhiều đại điền chủ. Trong lúc đó, ở trong Nam, vùng đất mới, kịp lúc Tây đến chiếm, nên có những người biết cách làm giàu với vài ngàn mẫu ruộng trở lên. Nhưng số đại điền chủ này không phải nhiều. Nhìn chung, chế độ ruộng đất ở việt nam từ thời quân chủ không quá bất bình đẳng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Về mặt quan chức, dưới thời quân chủ, người dân bình thường đều có quyền đi học và đi học không tốn kém. Khi thi đậu được nhà vua tuyển dụng làm quan. Tuy chịu ảnh hưởng văn hóa tàu, quan chức việt nam xuất thân từ thứ dân và khoa cử nên thường giữ nếp sống thanh liêm làm mẫu mực. Không có thứ quan phiệt vì ảnh hưởng lâu đời phong kiến như ở Tàu, nên cũng không có lớp cường hào ác bá ở địa phương xa, xách nhiễu thường xuyên dân chúng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi Pháp đến cai trị, một lớp tân học Việt Nam hấp thụ tinh thần khoa học và khai phóng khá đông làm mới xã hội Việt Nam. Hiện tượng mới này không phổ biến ở Tàu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước thực tế xã hội Việt Nam như vậy, thử nghĩ có cần thiết phải làm cuộc Cải cách Ruộng đất long trời lở đất hay không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hồ Chí Minh làm cuộc cải cách ruộng đất ở Miền Bắc từ năm 1953 không nhằm quân phân ruộng đất phục vụ nông dân, mà thực chất là nhằm tiêu diệt một thành phần quan trọng cũa xã hội, trong đó có cả đảng viên cộng sản gia nhập thời kháng chiến vì yêu nước, để thanh lọc xã hội, chuẩn bị cuộc cách mạng vô sản theo khuôn mẫu trung quốc. Do đó, Hồ Chí Minh đã “phóng tay phát động quần chúng nông dân đứng lên tố khổ và trị tội bọn địa chủ ác ôn ”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đến khi nhận thấy cải cách ruộng đất đã đạt mục tiêu, Hồ Chí Minh ban hành lệnh Sửa sai, đưa Hồ Viết Thắng và Trường Chinh qua chức vụ khác, đẩy Võ Nguyên Giáp ra công khai nhận lỗi trước nhân dân. Hồ Chí Minh xuất hiện và khóc cho nạn nhân của ông, chủ yếu để bảo vệ uy tín của đảng cộng sản của ông. Có dư luận cho rằng Trường Chinh vì lãnh đạo cuộc Cải cách Ruộng đất chấp nhận để cha mẹ bị đấu tố như những địa chủ khác. Xin nói rõ: không đúng. Trước khi phát động chiến dịch, theo nhà báo Bùi Tín, “Trường Chinh đã cho rước cha mẹ về Hà nội dấu một nơi an toàn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhưng đừng quên Cải cách Ruộng đất và Sửa sai là một chủ trương xuyên suốt theo chủ thuyết mao-trạch-đông đã áp dụng ở Tàu nhằm mục đích thật sự đẩy nông dân tay đẫm máu để phải theo đảng cộng sản luôn, không thể cấu kết với địa chủ chống đảng cộng sản và, mặt khác, lột bỏ tinh thần tư hữu vốn nặng và ăn sâu lâu đời trong nảo trạng nông dân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thực tế, không gì khác hơn là đảng cộng sản cướp sạch đất đai của nông dân bằng khủng bố.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày nay, đảng cộng sản hà nội vì không còn khả năng và ý chí làm cách mạng bằng bạo lực như trước nên bị nông dân trên cả nước đứng lên đòi đất đai đã bị đảng cướp từ trước giờ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thời cơ đang tới, hơn lúc nào hết, trước khi Việt nam có một chế độ dân chủ chính thống để truy tố đảng cộng sản ra trước công lý dân chủ, người nông dân từ Nam ra Bắc cần phải nắm chặt tay nhau, đứng lên đòi lại tài sản đã bị Đảng cộng sản cưỡng đoạt để tự mình làm lại cuộc Cải cách Ruộng đất cho chính mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Nguyễn văn Trần</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /><br />
</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Ghi chú:</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">* Ghi lại buổi nói chuyện về Cải Cách Ruộng đất với anh chị em “Đông Âu ” do Mạng Lưới Dân chủ tổ chức tại Berlin, 2005.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">** Tài liệu tham khảo:</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">-Hoàng văn Chí, Từ Thực dân đến Cộng sản, Pall Mall Press, 1964, London</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">-Pierre Brocheux, Hồ Chí Minh, từ nhà cách mạng đến thần tượng, Payot, 2003, Paris</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">-Loạt bài về Cải cách Ruộng đất trên Đài Á châu tự do</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">-Lâm Thanh Liêm, Chánh sách Ruộng Đất ỏ việt nam 1954-1995, Đường Mới, 1996, paris</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Etudes Vietnamiennes ( tập san Nghiên cứu việt nam), ngoại ngữ, 1965, Hà nội, số 7</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">*** Phụ bản</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: large;"><strong>K</strong><strong>Ế</strong><strong>T QU</strong><strong>Ả</strong><strong> TAI H</strong><strong>Ạ</strong><strong>I</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi nhận viện trợ kinh tế và quân sự của Trung Quốc, đảng CSVN phải thi hành chính sách “cải tạo xã hội chủ nghĩa” rập khuôn theo kiểu mẫu của Trung Quốc, điển hình nhất là chính sách cải cách ruộng đất.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bộ “Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000”, tập 2, (giai đoạn 1955-1975) do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản tại Hà Nội năm 2004, cho biết cuộc Cải Cách Ruộng Đất đợt 5 (1955-1956) được thực hiện ở 3.563 xã, với khoảng 10 triệu dân. Tỷ lệ địa chủ được quy định trước là 5,68%. Các đội và các đoàn Cải Cách Ruộng Đất đều ra sức truy bức để cố đôn tỷ lệ địa chủ lên 5% như đã quy định. Như vậy tổng số người bị quy là “địa chủ” phải là trên 500.000 người. Cũng theo tài liệu này, có 172.008 người đã bị đấu tố, tức bị giết. Tuy nhiên, sau khi sửa sai và kiểm tra lại, Đảng và Nhà Nước nhận thấy trong số 172.008 nạn nhân của cuộc Cải Cách Ruộng Đất, có đến 123.266 người được coi là oan (chiếm đến 71,6%).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau đây là những con số cụ thể về các nạn nhân:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Địa chủ cường hào gian ác: 26.453 người, trong đó số được coi bị oan là 20.493 người (77,4%);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Địa chủ thường: 82.777 người, trong đó số được coi bị oan là 51.480 người (62,19%);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Địa chủ kháng chiến: 586 người, trong đó số được coi bị oan là 290 người (49,4%);</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Phú nông: 62.192 người, trong đó số được coi bị oan là 51.003 người (82%).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi đảng CSVN không đi theo đường lối “cải tạo xã hội” của Mao Trạch Đông mà theo đường lối của Liên Sô, Trung Quốc đã “dạy cho Việt Nam một bài học”!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Lời bình của người không cộng sản và cộng sản phản tỉnh :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Qua các sự kiện lịch sử được công bố, các sử gia và các nhà phân tích đều đi đến kết luận rằng nếu năm 1945 đảng CSVN không đưa đất nước Việt Nam đi theo chủ nghĩa cộng sản, dùng dân tộc Việt Nam làm vật thí nghiệm cho một chủ nghĩa phiêu lưu, Việt Nam đã thoát khỏi một cuộc chiến kéo dài 30 năm với những hậu quả rất thảm khốc. Nếu không có đảng CSVN, nước Việt Nam đã có độc lập và tự do từ lâu rồi.</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/04/nhin-l%e1%ba%a1i-c%e1%ba%a3i-cach-ru%e1%bb%99ng-d%e1%ba%a5t-mi%e1%bb%81n-b%e1%ba%afc-va-c%e1%ba%a3i-cach-di%e1%bb%81n-d%e1%bb%8ba-mi%e1%bb%81n-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hành Sử Quyền Đối Lập Để Hình Thành Đối Lập ở Việt Nam</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/hanh-s%e1%bb%ad-quy%e1%bb%81n-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-d%e1%bb%83-hinh-thanh-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/hanh-s%e1%bb%ad-quy%e1%bb%81n-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-d%e1%bb%83-hinh-thanh-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Feb 2012 05:07:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>LS. Tran Thanh Hiep</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT]]></category>
		<category><![CDATA[Hành Sử Quyền Đối Lập]]></category>
		<category><![CDATA[Hình Thành Đối Lập ở Việt Nam]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35013</guid>
		<description><![CDATA[Hành Sử Quyền Đối Lập 
Để Hình Thành 
Đối Lập ở Việt Nam
Cuộc cách mạng dân chủ đã và đang diễn ra ở Bắc Phi và Trung Đông có thể coi như là đợt sóng ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: x-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;"><img style="float: left; margin-left: 14px; margin-right: 14px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/11/VTT-57-MAY-14-MANDALA-28.jpg" alt="" width="240" height="248" />Hành Sử Quyền Đối Lập </span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: x-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Để Hình Thành </span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: x-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Đối Lập ở Việt Nam</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>Cu</em><em>ộ</em><em>c cách m</em><em>ạ</em><em>ng dân ch</em><em>ủ</em><em> đã và đang di</em><em>ễ</em><em>n ra </em><em>ở</em><em> B</em><em>ắ</em><em>c Phi và Trung Đông có th</em><em>ể</em><em> coi nh</em><em>ư</em><em> là đ</em><em>ợ</em><em>t sóng dân ch</em><em>ủ</em><em> hóa th</em><em>ứ</em><em> ba c</em><em>ủ</em><em>a nhân lo</em><em>ạ</em><em>i k</em><em>ể</em><em> t</em><em>ừ</em><em> cu</em><em>ố</em><em>i th</em><em>ế</em><em> k</em><em>ỷ</em><em> XX và đ</em><em>ầ</em><em>u th</em><em>ế</em><em> k</em><em>ỷ</em><em> XXI. Đ</em><em>ợ</em><em>t sóng này đã đánh d</em><em>ấ</em><em>u m</em><em>ộ</em><em>t ch</em><em>ặ</em><em>ng đ</em><em>ườ</em><em>ng m</em><em>ớ</em><em>i c</em><em>ủ</em><em>a s</em><em>ự</em><em> nghi</em><em>ệ</em><em>p c</em><em>ủ</em><em>a nhân lo</em><em>ạ</em><em>i xây d</em><em>ự</em><em>ng và hoàn </em><em>thi</em><em>ệ</em><em>n th</em><em>ể</em><em> ch</em><em>ế</em><em> dân ch</em><em>ủ</em><em> kh</em><em>ở</em><em>i đ</em><em>ầ</em><em>u t</em><em>ừ</em><em> th</em><em>ế</em><em> k</em><em>ỷ</em><em> th</em><em>ứ</em><em> V tr</em><em>ướ</em><em>c Công Nguyên. Đ</em><em>ồ</em><em>ng th</em><em>ờ</em><em>i nó còn mang đ</em><em>ế</em><em>n cho nh</em><em>ữ</em><em>ng t</em><em>ậ</em><em>p th</em><em>ể</em><em> ng</em><em>ườ</em><em>i vào đ</em><em>ầ</em><em>u thiên niên k</em><em>ỷ</em><em> th</em><em>ứ</em><em> ba r</em><em>ồ</em><em>i – mà v</em><em>ẫ</em><em>n còn ph</em><em>ả</em><em>i mang ách đ</em><em>ộ</em><em>c tài – nh</em><em>ữ</em><em>ng s</em><em>ự</em><em> h</em><em>ỗ</em><em> tr</em><em>ợ</em><em> thi</em><em>ế</em><em>t y</em><em>ế</em><em>u c</em><em>ả</em><em> v</em><em>ề</em><em> ba m</em><em>ặ</em><em>t chính tr</em><em>ị</em><em>, pháp lý và quân s</em><em>ự</em><em> đ</em><em>ể</em><em> b</em><em>ẻ</em><em> gãy gông cùm c</em><em>ủ</em><em>a nh</em><em>ữ</em><em>ng th</em><em>ế</em><em> l</em><em>ự</em><em>c c</em><em>ầ</em><em>m quy</em><em>ề</em><em>n ph</em><em>ả</em><em>n dân ch</em><em>ủ</em><em>. S</em><em>ớ</em><em>m hay mu</em><em>ộ</em><em>n thì gió xuân B</em><em>ắ</em><em>c Phi Trung Đông cũng s</em><em>ẽ</em><em> th</em><em>ổ</em><em>i đ</em><em>ế</em><em>n Vi</em><em>ệ</em><em>t Nam vì dân ch</em><em>ủ</em><em> là xu th</em><em>ế</em><em> c</em><em>ủ</em><em>a th</em><em>ờ</em><em>i đ</em><em>ạ</em><em>i. Nh</em><em>ư</em><em>ng chính ng</em><em>ườ</em><em>i dân Vi</em><em>ệ</em><em>t Nam ph</em><em>ả</em><em>i ch</em><em>ứ</em><em>ng t</em><em>ỏ</em><em> có đ</em><em>ủ</em><em> ý chí và kh</em><em>ả</em><em> năng đánh b</em><em>ạ</em><em>i đ</em><em>ộ</em><em>c tài đ</em><em>ể</em><em> đ</em><em>ặ</em><em>t n</em><em>ề</em><em>n móng cho ki</em><em>ế</em><em>n trúc dân ch</em><em>ủ</em><em>.</em><em> <span style="color: #333333;"><strong>Do đó nay đã đ</strong></span></em><span style="color: #333333;"><strong><em>ế</em></strong><strong><em>n lúc m</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em>t l</em></strong><strong><em>ự</em></strong><strong><em>c l</em></strong><strong><em>ượ</em></strong><strong><em>ng đ</em></strong><strong><em>ố</em></strong><strong><em>i l</em></strong><strong><em>ậ</em></strong><strong><em>p ph</em></strong><strong><em>ả</em></strong><strong><em>i c</em></strong><strong><em>ấ</em></strong><strong><em>p t</em></strong><strong><em>ố</em></strong><strong><em>c thành hình và đ</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em>t xu</em></strong><strong><em>ấ</em></strong><strong><em>t trong lòng ch</em></strong><strong><em>ế</em></strong><strong><em> đ</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em> đ</em></strong><strong><em>ả</em></strong><strong><em>ng tr</em></strong><strong><em>ị</em></strong><strong><em> c</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em>ng s</em></strong><strong><em>ả</em></strong><strong><em>n hi</em></strong><strong><em>ệ</em></strong><strong><em>n nay đang ra s</em></strong><strong><em>ứ</em></strong><strong><em>c n</em></strong><strong><em>ắ</em></strong><strong><em>m gi</em></strong><strong><em>ữ</em></strong><strong><em> đ</em></strong><strong><em>ộ</em></strong><strong><em>c quy</em></strong><strong><em>ề</em></strong><strong><em>n cai tr</em></strong><strong><em>ị</em></strong><strong><em> đ</em></strong><strong><em>ấ</em></strong><strong><em>t n</em></strong><strong><em>ướ</em></strong><strong><em>c</em></strong></span><em><span style="color: #333333;">. D</span></em><em>ướ</em><em>i đây là môt s</em><em>ố</em><em> nh</em><em>ậ</em><em>n đ</em><em>ị</em><em>nh – đã đ</em><em>ượ</em><em>c nêu lên và</em><em>o m</em><em>ộ</em><em>t th</em><em>ờ</em><em>i đi</em><em>ể</em><em>m đã qua nh</em><em>ư</em><em>ng v</em><em>ẫ</em><em>n còn giá tr</em><em>ị</em><em> th</em><em>ờ</em><em>i s</em><em>ự</em><em> cao – v</em><em>ề</em><em> kh</em><em>ả</em><em> th</em><em>ế</em><em> khai sinh ra l</em><em>ự</em><em>c l</em><em>ượ</em><em>ng đ</em><em>ố</em><em>i l</em><em>ậ</em><em>p </em><em>ấ</em><em>y mà tình th</em><em>ế</em><em> đòi h</em><em>ỏ</em><em>i.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Kết hợp tranh đấu nhân quyền với tranh đấu dân chủ</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước tình hình trong nước có vẻ chớm bắt đầu ngột ngạt trở lại. Tự cho rằng thế ngoại giao tạm thời đã được củng cố đồng thời cũng để chặn đứng phong trào đòi dân chủ bằng đường lối hòa bình đang thành hình ở ngay trong lòng chế độ, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại để lộ bộ mặt độc tài toàn trị mà ít lâu nay họ cố che đậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà Nội, nhà cầm quyền Việt Nam vừa chuẩn bị một cơ sở pháp lý mới để cơ quan hành chánh, không cần dựa vào quyết định của cơ quan tư pháp, được quyền “quản chế” những ai mà công an liệt vào hạng “nguy hại cho an ninh quốc gia” vì đã “làm mất trật tự xã hội”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong>Đ</strong><strong>ộ</strong><strong>c tài hi</strong><strong>ệ</strong><strong>n nguyên hình</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng vẫn theo nguồn tin trên thì cơ sở pháp lý ấy là một “Nghị định” (Decree) của chính phủ. Trong khi chờ đợi biết rõ ai là tác giả nghị định ấy, hãy tạm không bàn tới tính hợp hiến hay không hợp hiến của nó. Vả lại trong hệ thống pháp luật cộng sản, làm gì có thứ bậc qui phạm (hiérarchie des normes) rõ ràng. Tuy miệng quảng cáo rầm rộ cho cái gọi là “nhà nước pháp quyền” (mập mờ đánh lận con đen với các loại Etat de droit, Rechtsstaat, v.v… của dân chủ phương Tây) nhưng trong thực tế những người cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn bám lấy những nguyên lý chuyên chính vô sản là nắm trọn trong tay tất cả mọi quyền hành để độc đoán cai trị hơn cả vua chúa ngày xưa. “Đổi mới”, “pháp quyền”, “dân chủ xã hội chủ nghĩa” loanh quanh một hồi rồi đâu vẫn vào đó. Chính quyền ngày nay, dù đã hội nhập vào thế giới văn minh, vẫn giống như chính quyền trong rừng ngày trước, muốn bắt ai thì bắt, muốn giam ai thì giam. Xưa thì nại cớ “chiến tranh giải phóng”, nay thì viện lẽ “ổn định xã hội”, “an ninh quốc gia”. Rút lại vẫn chỉ là những thủ đoạn chuyên chế, độc tài, phát xít, xít ta lin nít đã hoàn toàn lỗi thời. Những thủ đoạn kỳ quái, đảo lộn, ngược đời kiểu “đêm giữa ban ngày”, đúng như tựa đề cuốn hồi ký của một người đã may mắn sống sót và ra thoát khỏi cái thế giới “đêm” ấy để nói lên sự thật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong>Vi ph</strong><strong>ạ</strong><strong>m nhân quy</strong><strong>ề</strong><strong>n, tr</strong><strong>ướ</strong><strong>c đã rõ nay càng rõ h</strong><strong>ơ</strong><strong>n<br />
</strong></span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nói theo kiểu bình dân, những người cộng sản khôn nhưng không ngoan! Họ tưởng lầm rằng mượn những từ hoa mỹ “an ninh quốc gia” để che đậy ý đồ độc tài toàn trị là có thể dễ dàng đánh lừa được dư luận. Nhưng thế giới văn minh ngày nay không phải là những mật khu ngày xưa. Ngày 24-9-1982, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã tham gia hai Công ước quốc tế về các nhân quyền mà không có một dè dặt (réserve) nào.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Việc tham gia này có hiệu lực kể từ ngày 24-12-1982. Khác với bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Pacte international relatif aux droits civils et politiques) có hiệu lực như những luật quốc tế ràng buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam là người đã tham gia. Công ước này đặt ra cho nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam nhiều nghĩa vụ phải thi hành không thể nại cớ này cớ nọ để lẩn tránh, hay xuyên tạc sang đoạt, giảm bớt hoặc hủy bỏ. Nói tổng quát, tham gia Công ước này, nhà cầm quyền cộng sản bắt buộc phải coi mỗi người dân là một “con người” với đầy đủ nhân phẩm của nó nghĩa là có một loạt quyền để có thể sống một đời sống tự do, bình đẳng, dưới sự che chở của luật pháp. Căn cứ vào Công ước nói trên mà xét, việc nhà cầm quyền cộng sản quản chế công dân bằng biện pháp hành chính quả là một vi phạm trầm trọng Công ước ấy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thật vậy, điều 2 phần II của văn bản quốc tế này định rằng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“Mỗi quốc gia thành viên của Công ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền pháp lý của mình các quyền đã được công nhận trong Công ước này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc mọi quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc các điều kiện khác”. Mặt khác, điều 5 cũng của phần II, nói rõ rằng:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“1. Không được phép giải thích bất kỳ một qui định nào của công ước này để qua đó có hàm ý tạo cho một quốc gia, một nhóm người hoặc một cá nhân có được một quyền nào đó để tiến hành những công việc hoặc hành động nhằm mục đích hủy bỏ bất kỳ quyền và tự do nào được công nhận trong Công ước hoặc nhằm giới hạn những quyền và tự do đó quá mức độ qui định trong Công ước”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“2. Không được phép hạn chế hoặc hủy bỏ các quyền cơ bản của con người đã được công nhận hoặc hiện tồn tại ở một quốc gia thành viên của Công ước này trên cơ sở luật, điều ước, các qui định pháp luật hoặc tập quán với cớ là Công ước này không công nhận những quyền ấy hoặc công nhận ở một mức độ thấp hơn”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hai điều 2 và 5 này không cho phép nhà cầm quyền cộng sản tùy tiện đặt ra hay giải thích méo mó luật pháp để xâm phạm nhân quyền của mỗi công dân dù các công dân đó bất đồng chính kiến với người cộng sản, khác tôn giáo với người cộng sản. Cộng sản lại cũng không thể đưa ra chiêu bài “truyền thống dân tộc” để thoái thác không thi hành những nghĩa vụ mà công ước đã qui định như trên. (Tưởng cũng nên nói thêm là cộng sản Việt Nam không thể đồng hóa mình với cộng sản Trung Quốc vì Trung Cộng nại cớ không công nhận tư cách đại diện của Trung Hoa Quốc Gia – năm 1966 đã ký vào Công ước nên tự coi là không có nghĩa vụ thi hành Công ước).</span></p>
<p><em><img class="aligncenter" src="http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRqSdbunvJc3oCU_76Y_YE2faXY6mTgveew08KTsQi-hbHECv76fA" alt="" width="391" height="277" /></em></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong>Nhà c</strong><strong>ầ</strong><strong>m quy</strong><strong>ề</strong><strong>n c</strong><strong>ộ</strong><strong>ng s</strong><strong>ả</strong><strong>n có th</strong><strong>ể</strong><strong> n</strong><strong>ạ</strong><strong>i lý do “an ninh qu</strong><strong>ố</strong><strong>c gia” đ</strong><strong>ể</strong><strong> xâm ph</strong><strong>ạ</strong><strong>m m</strong><strong>ộ</strong><strong>t cách h</strong><strong>ợ</strong><strong>p pháp!” </strong>quyền của các công dân nói khác đi, để đàn áp đối lập – được không? Không được! Câu trả lời có thể dứt khoát ngay như vậy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước hết, như điều 4 của Công ước đã qui định chỉ khi nào có một “tình trạng khẩn cấp, đe dọa sự sống còn của quốc gia” đã được ban bố thì mới có thể đi ngược lại, nghĩa là ngưng thi hành những điều khoản của Công ước. Đây không phải là trường hợp của Việt Nam, trước mắt. Trong tương lai, Việt Nam cũng không ở trong triển vọng bị lâm vào một tình trạng khẩn cấp. Không có chiến tranh, không có thiên tai, v.v… đời sống ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra một cách bình thường. Tại sao phải ngưng thi hành Công ước?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vả lại ngay dù cho có “tình trạng khẩn cấp” chăng nữa, nhà cầm quyền Việt Nam một mặt chỉ có thể lấy những biện pháp bất thường nào “không trái với những nghĩa vụ khác, xuất phát từ luật quốc tế và không chứa đựng nội dung phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội”, mặt khác cũng vẫn phải tôn trọng những nhân quyền cơ bản đã được liệt kê trong điều 6, 7, 8 (các đoạn l và 2), 11, 15, 16 và 18. Đó là những quyền “được sống”, “không bị tra tấn… đối xử hoặc bị áp dụng hình phạt một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc nhục hình…”, “không bị bắt làm nô lệ,… làm nô dịch”, “không thể bị kết án phạm tội hình sự vì một hành động hoặc bất hành động không phải là tội phạm theo luật quốc gia hoặc luật quốc tế vào thời gian xảy ra hành vi đó”, “tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo…”(1). Muốn xé rào để có cơ sở pháp lý đàn áp đối lập, nhà cầm quyền cộng sản phải vượt qua loạt khóa an toàn vừa kể.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điều quá hiển nhiên là nhà cầm quyền cộng sản khi ban hành nghị định “quản chế” đã không vượt qua được bất cứ khóa an toàn nào. Nhưng họ cứ tri tình dày xéo lên những cam kết tuân thủ những qui phạm của Luật quốc tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Như vậy là những hành động vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản, trước đã rõ nay lại càng rõ thêm. Không một luận cứ pháp lý nào có thể biện minh cho những hành động vi phạm ấy. Vấn đề được đặt ra cho những người dân chủ Việt Nam ở trong cũng như ở ngoài nước, là phải đối phó cách nào cho có hiệu quả với tập đoàn cầm quyền bất chấp luật pháp ấy?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tăng cường và nâng cao phẩm chất tranh đấu nhân quyền</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Việc tranh đấu chấm dứt bạo quyền là một vấn đề hết sức phức tạp nhưng lại dễ bàn luận. Ai cũng có có sẵn lập trường, có sẵn kế hoạch, chiến lược, chiến thuật.</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở đây tuyệt đối không bàn suông, chỉ có một số nhận định rất giới hạn vào phạm vi luật học và chỉ nhắm vào hành động thực tế, cụ thể mà một số người Việt ở ngoài nước có thể tiến hành. Đó là việc tranh đấu nhân quyền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong những năm 80, dư luận người Việt ở ngoài nước hồi hộp theo dõi tin tức vụ “kiện” cộng sản vi phạm nhân quyền trước Liên Hiệp Quốc. Thật ra “kiện” cũng chỉ là một cách nói – cường điệu – để diễn tả công việc chống đối bằng luật pháp khi không có cách chống đối nào khác. Thời gian qua đã cho thấy đi “kiện” như vậy là đã đi đến đâu. Về điểm này, thiết tưởng không nên quá khe khắt mà cũng đừng quá dễ dãi. Công bình mà nói, không phải ai cũng có thể trực tiếp lên tiếng trước diễn đàn của Liên Hiệp Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhưng mặt khác, không phải là cứ lên tiếng trước diễn đàn ấy là giải quyết xong vấn đề chuyên chế tại Việt Nam. Nếu chỉ cần có bấy nhiêu thôi thì những tiếng nói của<strong> </strong>một số không nhiều người Việt Nam từng cất lên (trong số đó có tác giả bài viết này) tại Mỹ, Áo, Thụy Sĩ, v.v… để đọc những bản cáo trạng nghiêm khắc lên án cộng sản, đã mang lại từ lâu dân chủ cho nước này rồi! Thế mà bạo quyền chẳng những vẫn còn tại vị mà lại ngày càng “trụ” vững trên ngôi chuyên chế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chẳng lẽ vì vậy mà những người chống đối bạo quyền ấy đành bó tay sao? Phải duyệt xét lại việc làm đã qua để tìm những cách đối phó mới. Về điểm này, sẽ không có nhiều giải pháp. Cũng lại phải đi “kiện” nữa mà thôi, chữ “kiện” hiểu theo nghĩa thật rộng của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sự thực, đứng về mặt luật quốc tế mà nói, trong hiện tình, người Việt Nam nạn nhân của bạo quyền cộng sản không có một tố quyền nào trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc khả dĩ có thể mang lại cho mình những phán quyết như loại phán quyết của tòa án. Tuy nhân quyền được Liên Hiệp Quốc đề cao, được nhiều văn bản luật quốc tế qui định và bảo vệ nhưng thủ tục để cho các nạn nhân bị chà đạp nhân quyền khiếu nại lại rất giới hạn và ít hiệu quả. Trong cơ chế của Liên Hiệp Quốc có 5 cơ quan, với những thẩm quyền rộng hẹp khác nhau, có thể thụ lý và giải quyết các vấn đề nhân quyền. Đó là Hội Đồng Bảo An, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, Ủy Hội Nhân Quyền, Ủy Ban Nhân Quyền và Cao Ủy Nhân Quyền(2). Hãy gạt ngay sang bên Hội Đồng Bảo An và Đại Hội Đồng LHQ, vì hai cơ quan này ở ngoài tầm vận động trong lúc này của người Việt Nam, nạn nhân bạo quyền cộng sản. Cao Ủy Nhân Quyền, mới thiết lập được hai ba năm nay, không coi vấn đề vi phạm nhân quyền tại Việt Nam có giá trị ưu tiên. Trong số hơn 30 quốc gia mà ông đã viếng thăm từ khi nhậm chức, không thấy có nước Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ủy Ban Nhân Quyền là cơ quan mà Công ước quốc tế về quyền dân sự chính trị lập ra để giải quyết những vụ vi phạm nhân quyền trái với Công ước này. Oái oăm thay, cộng sản Việt Nam tuy có tham gia Công ước nhưng lại không tham gia Hiệp định thư thứ nhất phụ đính Công ước này nên Ủy Ban không có thẩm quyền xét khiếu nại của các nạn nhân Việt Nam. Chỉ còn Ủy Hội Nhân Quyền với thủ tục gọi là “Thủ tục 1503″ (1503 là số thứ tự nghị quyết của Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội ngày 27-5-1970 qui định thủ tục xét đơn khiếu nại về những sự vi phạm nhân quyền và những quyền tự do cơ bản) là nơi độc nhất để các nạn nhân Việt Nam mất nhân quyền có thể kêu cầu. Nhưng thủ tục hiếm hoi này lại rất nhiêu khê vì không phải ai muốn kêu cầu cũng được và muốn kêu cầu ra sao thì kêu. Nó đòi hỏi một số điều kiện về hình thức cũng như về nội dung đề hành sử (trong một dịp khác xin bàn kỹ hơn). Cũng may là nước Việt Nam đã bị ghi vào sổ đen vì những vi phạm nhân quyền (đây là công tranh đấu mấy chục năm qua của những người Việt tị nạn cộng sản) nên tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc ở Genève, tiếng nói của những nạn nhân Việt Nam vẫn còn có cơ hội tiếp tục cất lên.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nếu muốn dựa vào các Công ước quốc tế về nhân quyền để tranh đấu cho nhân quyền thì trong tương lai phải biết góp gió thành bão, nâng cao phẩm chất cuộc tranh đấu ấy cho thích hợp với môi trường quốc tế chứ không phải cho riêng “cộng đồng người việt hải ngoại”. Những chiến sĩ dân chủ kiên cường trong nước đang bị đe dọa trước mắt với nghị định “quản chế” mà bạo quyền vừa ban hành. Những người dân chủ Việt Nam ở ngoài nước cần tỏ và phải tỏ ra có khả năng ứng cứu, yểm trợ người dân chủ ở trong nước. Kết hợp được chặt chẽ hai cuộc tranh đấu này là sớm đặt được nền móng cho một nước Việt Nam dân chủ trong tương lai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #000080; font-size: large;"><strong>LS. Tr</strong><strong>ầ</strong><strong>n Thanh Hi</strong><strong>ệ</strong><strong>p</strong></span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/hanh-s%e1%bb%ad-quy%e1%bb%81n-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-d%e1%bb%83-hinh-thanh-d%e1%bb%91i-l%e1%ba%adp-%e1%bb%9f-vi%e1%bb%87t-nam/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Bài học Quản trị: Sự thành công của Thụy sĩ &#8212; Chánh trị hay Kinh tế?</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/bai-h%e1%bb%8dc-qu%e1%ba%a3n-tr%e1%bb%8b-s%e1%bb%b1-thanh-cong-c%e1%bb%a7a-th%e1%bb%a5y-si-chanh-tr%e1%bb%8b-hay-kinh-t%e1%ba%bf/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/bai-h%e1%bb%8dc-qu%e1%ba%a3n-tr%e1%bb%8b-s%e1%bb%b1-thanh-cong-c%e1%bb%a7a-th%e1%bb%a5y-si-chanh-tr%e1%bb%8b-hay-kinh-t%e1%ba%bf/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Feb 2012 05:06:14 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Phan Van Song, PhD, JD</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[TIN TỨC THẾ GIỚI]]></category>
		<category><![CDATA[Chánh trị hay Kinh tế]]></category>
		<category><![CDATA[Sự thành công của Thụy sĩ]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35025</guid>
		<description><![CDATA[Bài học Quản trị:
Sự thành công của Thụy sĩ
Chánh trị hay Kinh tế?
Thế giới Âu Mỹ than khóc vi khủng hoảng tiền tệ tài chánh kinh tế. Thế giới Âu Mỹ cũng  khen thưởng ca ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #008080;"><span style="font-size: x-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;"><img style="float: left; margin-left: 12px; margin-right: 12px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-FEB-2-Flag_of_Switzerland_Pantone.svg_.png" alt="" width="200" height="200" />Bài học Quản trị:<br />
Sự thành công của Thụy sĩ<br />
</span></strong></span><span style="font-size: x-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Chánh trị hay Kinh tế?</span></strong></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thế giới Âu Mỹ than khóc vi khủng hoảng tiền tệ tài chánh kinh tế. Thế giới Âu Mỹ cũng  khen thưởng ca tụng các quốc gia đang lên, nào là Trung Quốc ngon lành sẽ bá chủ thế giới sẽ vượt khỏi Huêkỳ.  Ấnđộ, Ba tây..và các quốc gia đang lên sẽ là những mô hình cho những quốc gia tiên tiến chúng ta.  Nhưng như chúng ta cũng đã thấy, mặc dù Tổng sản lượng quốc gia Trung Quốc  mỗi năm một tăng trưởng, tổng sản lượng đầu người Trung Quốc  vẫn còn rất kém. Tình trạng vệ sinh, an ninh đời sống của người dân Tàu, Ấn hay Brazil cũng còn thiếu văn minh, những căn nhà chật chôi thiếu vệ sinh vẫn còn, ở Ấn độ con nít đưới 14 tuổi đã  đi làm, đàn bà có thai vẫn đi làm, Tàu vẫn bắt buộc mỗi gia đình một người con, không có tự do sanh sản, vẫn không có một luật lệ bảo vệ lao động, những <em>favellas</em> ở Rio de Janeiro vẫn đầy rẫy kém an ninh. Không thể đánh giá một đất nước đang thuần bằng Tổng sản lượng đất nước. Phải đo lường bằng một phẩm chất đời sống, không chỉ đo lường bằng chén cơm hằng ngày, hay có chiếc xe hơi. Ngày mai có lẽ không đo lường tiện nghi bằng chiếc xe hơi nữa, vì tất cả đường phố đều có băng tự động đưa mình đi? </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vì vậy hôm nay chúng tôi xin giới thiệu cùng quý vị một đất nước thanh bình với những người công dân tử tế, với một nền kinh tế phát triển: thật sự thanh bình, thật sự tử tế, thật sự phát triển: Đất nước Thụy sĩ. </span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="http://www.wikiberal.org/w/images/3/35/Curzon.jpg" alt="Curzon.jpg" /><br />
<span style="color: #008080; font-size: small;"><strong>Giáo sư Victoria Curzon-Price</strong></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Nước Thụy sĩ không biết khủng hoảng là gì. Nền kinh tế chánh trị Thụy sĩ hoàn toàn trái ngược đối với các quốc gia láng giềng <span style="color: #008080;">phần đông ngày nay đang bị khủng khoảng và có thể bị đình trệ. </span></span></strong><span style="font-family: verdana, geneva; color: #000000;">Có phải đấy là một sự may rủi không ?  Giáo sư Victoria Curzon-Price của Đại học Genève trả lời với các hội viên Lions International, miền Trung-Tây nước Pháp.</span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Hội Lions</strong> : Chúng ta có thể nói là nước Thụy sĩ không có khủng hoảng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Gs Victoria Curzon-Price</strong> : Đúng vậy. Tinh hình kinh tế tài chánh của Thụy sĩ rất tốt, tỷ lệ công nợ đã giảm hẳn từ năm năm nay, ngân sách quốc gia thặng dư. Đồng franc-thụy sĩ tăng hối suất từ tháng 9/  2011, đối với euro và dollar Mỹ. Tinh hình phát triển tốt, nạn thất nghiệp ở mực tối thiểu  (dưới3% ), Tổng sản lượng nôi địa tăng 5,8 % từ 2007, trong khi Tổng sản lượng toàn thể các quốc gia khối Liên Âu hoặc bất động hay có thể bị trì trệ (trừ Thụy điển).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Lions: </strong>Giáo sư có thể cho biết nhờ vào những dữ kiện nào ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Gs V C-P: </strong>Thụy sĩ đã tiên liệu từ lâu nay, đã dùng tất cả những biện pháp để ngăn chận mọi vượt lằn đỏ của ngành tài chánh công quỹ. Thụy sĩ chấp nhận không sử dụng những chánh sách tăng vọt kinh tế tài chánh”tăng trưởng” để “phát triển”, (politique de relance) mà từ mười năm nay tất cả các quốc gia đều thích làm, và vẫn còn rất hiện hành. Biện pháp quan trọng đối với quan niệm của chúng tôi là chánh sách  “ giảm hẳn công nợ “ áp dụng từ cấp liên bang,  bắt đầu từ ngay năm 2001, cùng lúc đồng euro ra đời. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Lions:</strong> Tại sao cấp Liên bang ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Gs V C-P: </strong>Vì cuộc Trưng cầu dân ý cấp Liên bang ( Thụy sĩ có truyền thống quyết định bằng trưng cầu dân ý) năm 2011 được 85 % phiếu thuận. Nhưng chánh sách (“Giảm hẳn công nợ” nầy đã được các địa phương, các cantons ( Thụy sĩ là một Liên Bang Confédération các Cantons -tỉnh ) áp dụng từ lâu. Canton de Saint-Gall chẳng hạn đã dùng biện pháp “ Giảm hẳn, không cho công nợ” từ 70 năm nay. Fribourg, Soleure, Appenzeil, Grison, Lucerne đã áp dụng biện pháp ấy từ những năm 1960. Vaud, Valis và Berne, từ năm 2000. Và năm 2001, Hôi đồng Liên bang bị sức ép của dư luận Thụy sĩ là phải tôn trọng nghĩa vụ hiến pháp ( mà chánh phủ liên bang không thi hành từ những năm 1960) là phải “quản trị tài chánh đàng hoàng, tử tế, trong sáng”.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Lions: </strong>Kết quả thế nào ? Có làm giảm tăng trưởng nền kinh tế quốc gia Thụy sĩ không ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Gs V C-P</strong>: Kết quả đàu tiên là giảm công nợ quốc gia, sau đó đi đến thăng bằng các công quỹ và cuối cùng vài công quỹ có thặng dư. Kết quả thứ hai là (mặc dù các nhà kinh tế gia môn phái Keynes không đồng ý ) là có một sự phát triển của nến kinh tế tài chánh Thụy sĩ sau đó.  Tôi xin đọc bản báo cáo kinh tế tài chánh  của Hôi đồng Liên bang năm 2010 :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">“…. Kết quả hoàn toàn trái ngược nầy, (từ một Ngân sách thua lỗ dự kiến đã biến thành một Ngân sách thặng dư), là do “sức bật” bất ngờ của nền kinh tế Thụy sĩ. .. Kết quả khả quan của bảng tổng kết nền tài chánh năm 2010 của Thụy sĩ phản ảnh đúng tình hình nền kinh tế Thụy sĩ là đã vượt thành công tình trạng suy thoái một cách ngoạn mục …[..] Kỷ luật tài chánh áp dụng từ quyết định dùng biện pháp “  giảm công nợ” đã có  hiệu quả” . </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Lions</strong>: Biện Pháp “giảm công nợ” <strong> </strong>có được dân chúng ủng hộ không ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Gs V C-P</strong>: Hoàn toàn được ủng hộ. Cuộc thăm dò dư luận thực hiện vào tháng bảy năm 2011 cho biết sau câu hỏi : “ Làm sao giảm công nợ?”.  83 % câu trả lời “ là phải tiết kiệm, giảm tiêu xài của Nhà Nước”; 11% “ chấp nhận đi mượn thêm tiền”; và 2 % đề nghị “tăng thuế “. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Lions : </strong>Đây là một cái nhìn rất đặc biệt, khác biệt hẳn với các nhà kinh tế gia và những nhà lãnh đạo các quốc gia Âu châu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Gs V C-P: </strong>Đúng, nhưng cái ấy là do văn hóa và nảo trạng người Thụy sĩ chúng tôi, và cũng là truyền thống và quan niệm làm việc của các nhà lãnh đạo chúng tôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ở Thụy sĩ chúng tôi, không có cái “Ảo tưởng” &#8211;  mà Bastiat (1801 – 1850) đã nói rõ trong cuốn sách La loi &#8211; luật pháp (1850) -   hiện đang hoành hành tại các quốc gia dân chủ,  là quần chúng các quốc ấy cứ đinh nhinh rằng- qua luật pháp và tổ chức của Nhà Nước &#8211; người dân chúng ta sống thoải mái, ăn nhờ, nơi cộng đồn, ăn nhờ nơi người khác. Những đơn vị hành chánh ở Thụy sĩ rất nhỏ, công việc công là công việc của chung của tát cả mọi người, rất khó bỏ lơ để hưởng thụ, tự cấp cho mình một lợi nhuận, do cộng đồng tặng cho &#8211; người lạ hay anh bạn láng giềng của mình tặng không cho mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Lions :</strong> Vậy thì có  cơ chế để làm gỉ ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Gs V C-P :</strong> Chúng ta đang đi thẳng vào cái cốt lõi, cái đặc biệt của Thụy sĩ. Thụy sĩ có một Hiến pháp đặc biệt nó đang hình thành bởi hai sức ép : sự cạnh tranh giữa các « tỉnh –canton » và « quyền sáng kiến ».</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nếu Thụy sĩ có hai ba cơ chế hàng đầu thế giới,  lôi kéo việc đầu tư, các tài khóan, các xí nghiệp, các tài sản về cho Thụy sĩ đấy  là nhờ sự cạnh tranh của các canton (26 cantons lớn nhỏ khác nhau )  đã bằng mọi giá tìm cách lôi kéo bạn hàng về mình. Bằng những giá cả đặc biệt về lãi suất, bằng chánh sách thuế vụ.. Thường thường là thuế vụ. … nhưng nhiều khi cũng dùng những biện pháp về đời sống xa hội như  nhà ở, đời sống, môi trường, dịch vụ …thể thao, hí viện, bảo tàng viện, trường học, đại học, .. Và bảo mật của ngân hàng. Và quan trọng hơn cả là sự quý trọng người dân và ngược lại tạo những điều kiện để có những người công dân tử tế, đàng hoàng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Lions </strong>: quyền sáng kiến là gì ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Gs V C-P : </strong>Dân Thụy sĩ hưởng những quyền dân chủ đặc biệt : Những người dân cử đều dưới quyền kiểm soát của công dân. Bất cứ lúc nào, một nhóm công dân đều có thể đưa ra một ý kiến một sáng tạo. ( 100 000 chữ ký cho một sáng kiến cấp Liên bang) chống một đạo luật, đề nghị một đạo luật, có khi cả một dự án luật, miễn là đừng đi ngược với Hiến Pháp. Dỉ nhiên với một sức ép như vậy , các vị dân cử khó có thể đề nghị tăng thuế hay tăng tiền xài …</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Lions :</strong> Như vậy có thể nói Thụy sĩ là một mô hình chánh trị lý tưởng :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Gs V C-P :</strong> Có thể nói đúng như vậy, nhưng mà cũng có thể nói là không đúng ! Việc phải nhìn nhận là Thụy sĩ là một nước nhỏ bé, rất thuận lợi.  Nhưng Không đúng, vì vẫn còn những ngưởi Thụy sĩ rất thèm trung ương hóa mọi quyết định. Nhưng nói là một mô hình chánh trị cũng đúng,  vì quan niệm và cách suy nghĩ của người dân Thụy sĩ  đã chứng mình rằng trong giàn giao hưởng kinh tế âu châu, cây đàn Thụy sĩ chơi rất đúng. Thoạt đầu dân Thụy sĩ chạy, đi, sanh hoạt trên con đường, trên mô hình của mình. Nhưng từ từ các bạn bè chạy sai đường, các nước bạn, láng giềng đều bị khủng hoảng&#8230; ; bằng đầu tài sản, tiền đầu tư ào ào nhập vào Thụy sĩ. Đồng tiền Thụy sĩ tăng giá. Ai ai cũng thèm nhập ngân vào Thụy sĩ Nhưng con người Thụy sĩ cũng chẳng tay đổi, vẫn tiếp tội cạnh tranh tỉnh nầy với tỉnh nọ, và lúc nào cũng không muốn trung ương hóa.</span></p>
<p><span style="font-size: small;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;"><img class="aligncenter" src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/e/e6/Bastiat.jpg/200px-Bastiat.jpg" alt="Bastiat.jpg" /> <span style="color: #008080;">Frédéric Bastiat (1801 -1850) là một nhà kinh tế gia,chuyên về tự do thương mãi. Ông thích thuyết cạnh tranh, chống xã hội chủ nghĩa, chống chế độ thuộc địa. Ông là cha đẻ của Trường phái kinh tế Áo. Cha để của Trường phái kinh tế tự do lựa chọn.</span></span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Để tạm kết, xin mời Quý vị đọc câu nói của Frédéric Bastiat và suy nghiệm:</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">«Thế giới ta có quá nhiều nhà làm luật, có quá nhiều người tổ chức, có quá nhiều các thầy giáo và mọ hình xã hội, có rất nhiều người (muốn) lãnh đạo quốc gia, có rất nhiều cha đẻ ra các quốc gia , cha già dân tộc,  vân vân … Cũng rất nhiều người tự đạt mình trên thiên hạ để cầm quyền, để dạy dân .. » Fédéric Bastiat &#8211; <em>Luật Pháp </em>(1850)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">(«Il y a trop de grands hommes dans le monde; il y a trop de législateurs, organisateurs, instituteurs de sociétés, conducteurs de peuples, pères des nations, etc. Trop de gens se placent au-dessus de l&#8217;humanité pour la régenter, trop de gens font métier de s&#8217;occuper d&#8217;elle ») </span><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Frédéric Bastiat – <em>La Loi </em>(1850).</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/thumb/b/b4/Coat_of_Arms_of_Switzerland_%28Pantone%29.svg/85px-Coat_of_Arms_of_Switzerland_%28Pantone%29.svg.png" alt="" width="80" height="88" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Mồng Một tháng giềng Năm Nhâm Thìn (23/01/2012)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">TS. Phan Văn Song</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/bai-h%e1%bb%8dc-qu%e1%ba%a3n-tr%e1%bb%8b-s%e1%bb%b1-thanh-cong-c%e1%bb%a7a-th%e1%bb%a5y-si-chanh-tr%e1%bb%8b-hay-kinh-t%e1%ba%bf/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tôi chẳng cần bất cứ một sự lãnh đạo nào</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/toi-ch%e1%ba%b3ng-c%e1%ba%a7n-b%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a9-m%e1%bb%99t-s%e1%bb%b1-lanh-d%e1%ba%a1o-nao/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/toi-ch%e1%ba%b3ng-c%e1%ba%a7n-b%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a9-m%e1%bb%99t-s%e1%bb%b1-lanh-d%e1%ba%a1o-nao/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Feb 2012 05:04:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Pham Thi Hoai</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[THỜI LUẬN]]></category>
		<category><![CDATA[chế độ cộng sản]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=34963</guid>
		<description><![CDATA[Tôi chẳng cần
bất cứ một sự lãnh đạo nào
Phạm Thị Hoài: Thưa ông Tiêu Dao Bảo Cự, khi còn là đảng viên, ông trải nghiệm sự lãnh đạo của Đảng như thế nào?
Tiêu Dao Bảo ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: xx-large;"><strong><img style="float: left; margin-left: 12px; margin-right: 12px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-JAN-31-12-CROP.TDBAO_.CU_.jpg" alt="" width="241" height="251" />Tôi chẳng cần<br />
bất cứ một sự lãnh đạo nào</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Thưa ông Tiêu Dao Bảo Cự, khi còn là đảng viên, ông trải nghiệm sự lãnh đạo của Đảng như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> Tôi vào Đảng ở Miền Nam trước năm 1975 (lúc đó có tên là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam tức Đảng Cộng sản ở Miền Nam) trong một tình thế hoàn toàn khác với Miền Bắc hoặc cả nước sau 1975. Lúc đó chúng tôi không quan tâm và nói gì đến việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chỉ có đọc qua đôi chút lý thuyết về chủ nghĩa cộng sản, quan trọng là nghiên cứu 5 bước công tác vận động quần chúng và tập trung cho mục tiêu chống sự can thiệp của Mỹ, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trước 75, trong một chi bộ bí mật, chúng tôi chỉ được quán triệt các nhiệm vụ chiến lược và cùng nhau trao đổi, bàn bạc những việc cần làm một cách cụ thể, sáng tạo giữa những người đồng chí hướng, cùng lý tưởng. Ngay sau 1975, những cuộc họp của Đảng đã được mở rộng, công khai, nghe quán triệt các nghị quyết của trung ương và trao đổi một cách tương đối dân chủ, cởi mở những việc cần làm. Giữa các đảng viên, phần lớn từ trong rừng ra và đảng viên tại chỗ, ngoài tình đồng chí còn coi nhau như trong một gia đình lớn, thường gọi nhau là anh – em, chú – cháu tùy theo tuổi tác, một cách thân ái và chân tình. Về sau nữa, các nghị quyết của trung ương có tính cách bài bản và chi tiết hơn, các địa phương chỉ rập khuôn, ít sáng tạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Dần dần, nghị quyết của Đảng và thực tế cuộc sống ngày càng xa cách. Tôi là một trong số rất ít đảng viên nêu thắc mắc trong khi những người khác chỉ biết “quán triệt”. Cho tới một lúc tôi thấy sự lãnh đạo của Đảng đã khác biệt quá xa với lý tưởng và hoài vọng của mình, tôi bắt đầu phản bác, chống đối nên cuối cùng bị khai trừ. Đảng và tôi đã không còn đi chung đường.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Từ khi bị khai trừ khỏi Đảng, ông có thấy mình trở thành một con người khác không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> Cuối năm 1988, Bùi Minh Quốc và tôi ở Hội Văn nghệ Lâm Đồng tổ chức chuyến đi xuyên Việt đòi tự do sáng tác, báo chí, xuất bản và đổi mới thực sự, có nhà thơ Hữu Loan cùng đi. Trên đường từ Hà Nội về Đà Lạt, tôi đã viết bản dự thảo tuyên bố ra khỏi Đảng, chung cho Bùi Minh Quốc và tôi. Anh Quốc không đồng ý, anh nói nếu cần cứ để bị khai trừ và tiếp tục khiếu nại như một cuộc đấu tranh trong nội bộ Đảng, làm rõ đúng sai, tranh thủ những người tốt trong Đảng. Trong hoàn cảnh đó, tôi không thể tách ra khỏi anh Quốc để làm một mình vì chúng tôi cùng một cảnh ngộ, cùng một cuộc chiến đấu và đang rất đơn độc. Cuối cùng, sang năm 1989, cả hai đều  bị khai trừ sau một cuộc đấu tranh gay gắt trong Hội Văn nghệ Lâm Đồng và nội bộ Đảng, không chỉ ở đảng bộ địa phương mà liên quan đến tận trung ương.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau khi bị khai trừ Đảng, họa sĩ Lưu Công Nhân lúc đó thỉnh thoảng qua lại Hội Văn nghệ, đến thăm tôi và chúc mừng tôi đã được “giải phóng”. Ông còn nói thêm, các anh ở trong này chưa hiểu biết về cộng sản, nếu các anh ở ngoài Bắc trước đây mà làm như vậy thì đã tù mọt gông hay “giữa đường mất tích” rồi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Dù ở trong hay ngoài Đảng, tôi chỉ là tôi, không hề là con người khác. Tôi vào Đảng là tự nguyện, chấp nhận và bị chi phối bởi những nguyên tắc, quy định của Đảng. Khi ra khỏi Đảng, tôi không còn những ràng buộc đó và có nhiều tự do để thể hiện con người đích thực của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Nếu phải giải thích cho một người chưa bao giờ sống dưới sự lãnh đạo của Đảng hiểu được, ông có thể giải thích như thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự: </strong>Đảng lãnh đạo chủ yếu thông qua hai phương diện, tư tưởng và tổ chức.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tư tưởng thể hiện qua cương lĩnh của Đảng, nghị quyết của trung ương và các cấp bộ Đảng mà từng đảng viên phải quán triệt để thực hiện. Tổ chức có quy hoạch đào tạo, dàn xếp, điều chuyển bộ máy lãnh đạo các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương của Đảng, chính quyền, đoàn thể một cách hết sức chặt chẽ. Ngoài ra còn có nguyên tắc cá nhân phục tùng tổ chức, địa phương phục tùng trung ương. Phương pháp đấu tranh phê bình, tự phê bình là một phương pháp rất có hiệu quả để bảo đảm sự thống nhất ý chí, đoàn kết trong Đảng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Theo cảm nhận riêng của tôi, vài năm sau 1975, ở các đảng bộ tôi sinh hoạt, phương pháp này được thực hiện tương đối tốt vì các đảng viên đấu tranh thẳng thắn, không khoan nhượng những biểu hiện sai trái, lệch lạc, trong tinh thần gọi là “trị bệnh cứu người” giữa những người đồng chí.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Về sau này khi đã nắm vững quyền lực, với tư thế của một đảng cầm quyền độc tôn, lợi xen lẫn vào quyền, đi đôi với quyền, cấu kết quyền và lợi bắt đầu tạo ra sự suy thoái, sa đọa trong Đảng. Người ta không còn dám đấu tranh phê bình, tự phê bình một cách thẳng thắn, trong sáng mà nể nang, dựa dẫm nhau, “lắng nghe hơi thở của lãnh đạo”, kết bè cánh, kèn cựa hại nhau, tranh địa vị quyền lợi. Dù Đảng đã từng cảnh báo “Hãy cảnh giác với quyền lực” nhưng lời kêu gọi này không còn giá trị gì khi một đảng trở thành độc tài toàn trị, quyền lực vô biên đi đôi với lợi lộc tràn trề trong nền kinh tế thị trường hoang dã, kích thích lòng tham vô đáy của con người. Sự lãnh đạo của Đảng lúc này trở thành sự khống chế của một tập đoàn thống trị cấu kết nhau trong quyền và lợi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Còn với giới trí thức, Đảng lãnh đạo họ thông qua công cụ gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> Cũng thông qua tư tưởng, tổ chức. Ngoài cương lĩnh, nghị quyết chung còn có chiến lược phát triển của từng ngành do Đảng vạch ra, được triển khai trong các hội nghị, hội thảo chuyên đề. Trong điều kiện gọi là “Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối và triệt để” và trong bộ máy lãnh đạo của Đảng không có nhiều trí thức, sự lãnh đạo này đôi khi khập khiễng, thiếu tầm, khiên cưỡng, áp đặt. Một số hình ảnh được chiếu trên truyền hình làm cho nhiều người xem cảm thấy nhục nhã khi các nhà trí thức hàng đầu của đất nước phải ngồi lắng nghe huấn thị của một cán bộ lãnh đạo Đảng về các lĩnh vực chuyên môn mà trình độ của người đó không đáng là học trò của họ. Đành rằng không có người lãnh đạo của bất cứ quốc gia nào, dù tài giỏi đến đâu, có thể thông thái về hết mọi lãnh vực, tuy nhiên người lãnh đạo đất nước nhất định phải có trí tuệ cao, tầm nhìn chiến lược, lòng hi sinh phục vụ đất nước, mới có thể nói cho người khác lắng nghe.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài: </strong>Ông có cho rằng giới trí thức cần sự lãnh đạo đó không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> Đặc điểm của giới trí thức là nặng tư duy, thích phản biện và sáng tạo. Nếu lãnh đạo đã đưa ra định hướng cứng nhắc, ràng buộc trí thức thì không những không giúp ích cho sự phát triển của giới trí thức mà còn làm cho họ trở nên thui chột, xơ cứng, thậm chí hèn nhát, tráo trở, gian dối để được lòng lãnh đạo. Điều này đã làm cho sinh hoạt của giới trí thức trì trệ trong nhiều năm qua, tụt hậu rất xa so với các nước khác, trên mọi lãnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục, văn học nghệ thuật.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Và bản thân ông?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> Hiện nay tôi là một người cầm bút tự do, tôi chẳng cần bất cứ một sự lãnh đạo nào. Tôi nhìn nhận, đánh giá mọi việc theo tư duy, trí tuệ và lương tâm của mình. Tôi viết, dù là chính luận hay sáng tác văn học đều hướng về chân – thiện – mỹ, những giá trị có tính phổ quát toàn nhân loại mà tôi có thể thu nhận qua tri thức đông tây kim cổ. Tôi không cần một lý thuyết hay sự chỉ đường của bất cứ ai.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Sự lãnh đạo của Đảng hiện nay có gắn với những nội dung tích cực hoặc cần thiết trong một lĩnh vực nào của đời sống?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> Trên lý thuyết, sự lãnh đạo của Đảng đề cập những vấn đề thiết yếu của đời sống nhưng vì nó chưa xứng tầm với đất nước và thời đại, cố gò vào những lý thuyết giáo điều và tư tưởng đã lỗi thời, mục đích là giữ vững độc quyền lãnh đạo, nên đã làm trì trệ thay vì phát triển đất nước, phục vụ xã hội. Trong tình hình đó, nhiều kẻ bám vào để mưu lợi hoặc theo đuổi những mục đích cá nhân là điều tất yếu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Theo ông, không có sự lãnh đạo đó, xã hội có rơi vào hỗn loạn, khủng hoảng không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> Theo một nghĩa rộng, bất cứ quốc gia nào cũng cần có sự lãnh đạo của những người cầm quyền, thông qua chiến lược phát triển quốc gia, các kế hoạch 5 năm, 10 năm… chứ không thể để xã hội vận hành một cách tự do, không định hướng được. Hiện nay Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, dĩ nhiên Đảng tự cho mình quyền lãnh đạo. Ở đây có hai vấn đề đặt ra:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Một là Đảng có xứng tầm lãnh đạo đất nước không? Không thể chỉ vì “được lịch sử giao phó sứ mệnh” như Đảng vẫn thường tự hào, giao một lần rồi tự cho mình quyền lãnh đạo mãi mãi. Điều này không khác chế độ phong kiến ngày xưa. Ngày trước là “vạn tuế”, bây giờ là “muôn năm”, một khi chiếm được quyền lực, những người cầm quyền đều tự coi đất nước như của riêng dòng họ, đảng mình một cách vĩnh viễn. Mặt khác, không có sự lãnh đạo hay lãnh đạo sai lầm đều đưa xã hội đến chỗ hỗn loạn, khủng hoảng, gây ra nhiều tội ác, thậm chí đưa đất nước vào họa diệt vong như nhiều bằng chứng lịch sử nhân loại đã cho thấy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong “Thư ngỏ gởi những người cộng sản Việt Nam” viết năm 1996 (đã công bố trên một số phương tiện truyền thông lúc đó và một số trang web sau này), gởi ban soạn thảo cương lĩnh Đại hội Đảng lần thứ VIII, trước khi đề nghị từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, chống thần thánh hóa lãnh tụ, thực hiện tự do dân chủ và đa nguyên chính trị, thực sự đoàn kết và hòa giải dân tộc, điều đầu tiên tôi đề cập là trưng cầu ý dân về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trước đó nữa, khi còn là đảng viên, tôi cũng đã có lần phát biểu điều tương tự trong một hội nghị của Đảng. Những người cầm quyền hiện nay chưa đủ bản lĩnh và thiện ý để làm điều này. Đó cũng là một trong những lý do làm tôi trở thành một trong hai người đầu tiên bị áp dụng nghị định 31/CP về quản chế hành chính trong 2 năm 1997 – 1999 (người kia là Bùi Minh Quốc).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hai là bộ máy lãnh đạo quá cồng kềnh, tốn kém. Một đất nước còn nghèo đói mà có tới 3 bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể “ăn” ngân sách nhà nước, chưa kể phải nuôi một lực lượng quân đội và công an hùng hậu, làm sao có đủ tiền của để lo cho nhân dân, phục vụ phúc lợi xã hội. Tinh giản bộ máy là điều đơn giản, quá dễ thực hiện nhưng Đảng vẫn không làm vì không muốn mất quyền và lợi. Ngược lại, nhân dân chẳng ai muốn phải gánh oằn lưng bộ máy cồng kềnh nặng nề này bằng mồ hôi, nước mắt của mình.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Theo ông, đảng viên có quyền và có nên phủ nhận độc quyền lãnh đạo của Đảng không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> Đảng viên phải tuân thủ điều lệ và những nguyên tắc, quy định của Đảng. Điều này được áp dụng cho bất cứ tổ chức Đảng nào, nếu ai không muốn, đừng gia nhập Đảng. Tuy nhiên chuyện độc quyền lãnh đạo, “tuyệt đối không chia sẻ quyền lãnh đạo cho ai khác” trong khi mình chẳng phải là những người ưu tú nhất, cho thấy một ý thức chiếm hữu hẹp hòi, vì quyền lợi riêng của cá nhân và Đảng chứ không phải vì quyền lợi của nhân dân, đất nước, ngược với mục đích, tôn chỉ của đảng. Do đó tôi nghĩ đảng viên nào thực sự có lý tưởng vì dân vì nước không thể không đặt ra vấn đề này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thực tế, đa số đảng viên hiện nay đều gắn bó với Đảng vì quá khứ, lợi quyền nên dù thấy Đảng sai lầm vẫn không công khai phản bác hay có phản bác nhưng vẫn tiếp tục ở trong Đảng, hưởng lợi quyền do Đảng mang lại. Rất ít người từ bỏ Đảng hoặc phê phán Đảng một cách triệt để (nhưng hiện tượng này đang có xu hướng ngày càng tăng). Nếu không có nhiều đảng viên như thế, Đảng sẽ đi vào thoái trào trong giai đoạn gọi là “tham quyền cố vị”, xa lạ với lý tưởng tốt đẹp mà Đảng vẫn tuyên truyền.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Nếu được khôi phục đảng tịch, ông sẽ làm gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> “Guồng máy khi vận hành đã đè bẹp mọi lương tri hay lương tri không có chỗ trong guồng máy. Guồng máy đã trở nên vô hồn theo đà quay của nó. Mỗi người chỉ là một bộ phận, một chi tiết, một đinh ốc. Đinh ốc nào rơi ra như tôi sẽ bị nghiền nát. Không có sự phản kháng chống đối trong guồng máy vì như thế sẽ làm nó tê liệt. Chỉ có cách phá vỡ tung và làm lại theo cấu trúc mới. Có phải như vậy không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đúng ra tôi không nên vào Đảng. Tôi là một kẻ yêu tự do, muốn tung trời lướt gió, làm sao có thể ở trong một Đảng được. Đảng là một tổ chức, một phương tiện, tập hợp sức mạnh, ý chí và hành động của nhiều người để đạt đến một lý tưởng chung. Nhưng khi lý tưởng chung đã không còn, Đảng sẽ trở thành tù ngục và là nơi thanh toán lẫn nhau. Đảng phải thuần nhất, nếu không Đảng sẽ mất sức mạnh dù đó là sức mạnh mù quáng. Những người lãnh đạo Đảng hiểu rất rõ điều đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đảng cầm quyền lại có thêm yếu tố quyền lực và quyền lợi gắn kết các thành viên. Sau bao nhiêu tổn thất, mất mát trong đấu tranh, khó ai có thể từ chối những yếu tố mới đầy hấp dẫn và lạc thú, có sức lôi cuốn mạnh hơn cả lý tưởng ngày xưa. Điều này giúp tôi hiểu thêm bản chất của con người và tính chất của guồng máy này. Lý tưởng và quá khứ với những tủi nhục và vinh quang đã ràng buộc họ vào một tổ chức, quyền lực và quyền lợi đã cố kết họ trong guồng máy.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Guồng máy này dị ứng với những người và cách phản ứng như tôi.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trên đây là một đoạn trích ở chương 3 nói về guồng máy trong cuốn sách Mảnh trời xanh trên thung lũng (NXB Văn Mới, Cali, Hoa Kỳ 2007), viết về suy nghĩ và tâm trạng của tôi sau bị khai trừ Đảng. Trước đây tôi vào Đảng trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt để cùng với những người đồng chí hướng chiến đấu có hiệu quả trong một tổ chức. Bây giờ mọi chuyện đã rất khác, quá khác ngày trước, và với tình hình của Đảng như đã phân tích trên, tôi còn vào Đảng hay trở lại Đảng để làm gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Ông có tin rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tự chuyển mình thành một đảng dân chủ, từ bỏ chế độ toàn trị và cùng các đảng phái khác chia sẻ trách nhiệm điều hành đất nước?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Tiêu Dao Bảo Cự:</strong> Đảng Cộng Sản Việt Nam có khả năng thích nghi rất lớn. Lịch sử Đảng cho thấy Đảng đã nhiều lần đổi tên, thay đổi đường hướng chiến lược để tồn tại và phát triển. Đảng cũng thấy rõ xu hướng hiện nay của toàn nhân loại là xu hướng dân chủ, nhưng Đảng sẽ không tự nguyện chuyển hóa về phía dân chủ vì như thế sẽ mất độc quyền lãnh đạo, có nghĩa là mất nhiều quyền lợi. Tuy nhiên xu thế lịch sử không cho phép họ tiếp tục giữ mãi độc quyền. Xu thế lịch sử ở đây không hiểu chung chung mà là ý thức dân chủ và tinh thần phản kháng của người dân ngày một lên cao, cộng với sức ép của quốc tế trên đường hội nhập. Đảng sẽ phải chuyển hóa nhưng tốc độ chuyển hóa tùy thuộc vào tác động nói trên và với sự tính toán, chuẩn bị chu đáo bằng nhiều thủ thuật, làm thế nào vẫn chiếm thế thượng phong, ít ra là thời gian đầu, trong cuộc chơi dân chủ không thể tránh được. Dù sao đó cũng là kịch bản tương đối ít gây xáo trộn, mất mát. Nếu Đảng vẫn khăng khăng quyết giữ độc tài toàn trị, đến một lúc nào đó, khi người dân không thể chịu đựng nổi, nhất định bạo loạn sẽ nổ ra, Đảng và nhân dân đều chịu tổn thất rất lớn. Trách nhiệm trước lịch sử về thảm kịch đó thuộc về Đảng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đối với riêng tôi, điều mong chờ lớn nhất là sự tỉnh thức, can đảm đứng lên làm chủ của người dân, đại bộ phận nhân dân, mà đi đầu là tầng lớp tinh hoa và giới trẻ. Điều này cần có thời gian. Nhưng thời gian kéo dài cũng có nghĩa là chịu đựng và khổ đau kéo dài.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phạm Thị Hoài:</strong> Cảm ơn ông Tiêu Dao Bảo Cự.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Phạm Thị Hoài</span></strong></span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/toi-ch%e1%ba%b3ng-c%e1%ba%a7n-b%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a9-m%e1%bb%99t-s%e1%bb%b1-lanh-d%e1%ba%a1o-nao/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tháp Gió Bị Quạt Ngược</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/thap-gio-b%e1%bb%8b-qu%e1%ba%a1t-ng%c6%b0%e1%bb%a3c/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/thap-gio-b%e1%bb%8b-qu%e1%ba%a1t-ng%c6%b0%e1%bb%a3c/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Feb 2012 05:02:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Nguyen Xuan Nghia-Trong Nghia</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[THỜI LUẬN]]></category>
		<category><![CDATA[Tháp Gió]]></category>
		<category><![CDATA[Thị trường toàn cầu]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=35042</guid>
		<description><![CDATA[Tháp Gió
Bị Quạt
Ngược


 
Tháp điện gió Việt Nam xuất qua Mỹ bị vạ lây vì dính đến Trung Quốc&#8230;
 
Thứ Năm 19/01/2012, sau khi xem xét khiếu nại của các nhà sản xuất Mỹ, bộ ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: xx-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;"><img style="float: left; margin-left: 10px; margin-right: 10px;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/02/VTT-FEB-1-CROP-WINDFARM.jpg" alt="" width="150" height="166" />Tháp Gió</span></strong></span></div>
<div style="text-align: justify;"><strong style="color: #008080; font-size: xx-large;"><span style="font-family: verdana,geneva;">Bị Quạt</span></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: xx-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Ngược</span></strong></span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: xx-large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;"><br />
</span></strong></span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="color: #008080; font-size: x-large;"><strong> </strong></span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tháp điện gió Việt Nam xuất qua Mỹ bị vạ lây vì dính đến Trung Quốc&#8230;</span></div>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"> </span><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><br />
Thứ Năm 19/01/2012, sau khi xem xét khiếu nại của các nhà sản xuất Mỹ, bộ Thương mại Hoa Kỳ đã loan báo quyết định mở điều tra về các loại tháp điện gió nhập khẩu từ Trung Quốc và Việt Nam, bị tố cáo là đã bán phá giá vào Mỹ. Theo một số nhà quan sát, cuộc điều tra chủ yếu nhắm vào Trung Quốc, nhưng doanh nghiêp Việt Nam bị họa lây vì bị nghi ngờ làm bình phong cho Trung Quốc tuồn hàng vào thị trường Hoa Kỳ.</span></div>
<div>
<div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><br />
Vụ việc khởi sự từ cuối năm ngoái, 2011, khi bốn công ty lớn của Mỹ chuyên chế tạo các tháp điện gió (Trinity Structural Towers, DMI Industries, Katana Summit and Broadwind Energy), vào ngày 29/12, đã nộp đơn khiếu nại lên chính quyền, đòi phải áp thuế chống bán phá giá lên các sản phẩm nhập từ Trung Quốc và Việt Nam, mà khối lượng đã tăng lên gấp đôi trong năm 2011, tranh giành thị phần của các công ty Mỹ. Họ cáo buộc các công ty Trung Quốc và Việt Nam là nhờ được Nhà nước trợ cấp nên đã bán hàng hóa vào Mỹ với giá rẻ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Một ví dụ được lãnh đạo công ty Trinity Structural Towers, một trong bốn hãng nộp đơn kiện, nêu bật là vụ công trình xây dựng khu sản xuất điện gió Shepherds Flat Wind Farm, đang xây dựng ở miền đông tiểu bang Oregon. Khi hoàn thành vào năm 2012, Shepherds Flat được coi là khu sản xuất điện gió trên đất liền lớn nhất thế giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điều oái ăm là thay vì đặt mua thiết bị chế tạo tại Hoa Kỳ, những người chịu trách nhiệm công trình lại nhập hàng từ Trung Quốc, giá rẻ hơn !</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong vụ kiện bán phá giá bắt đầu khai diễn, việc các công ty Trung Quốc bị Mỹ tấn công không khiến ai ngạc nhiên, nhưng sự có mặt của doanh nghiệp Việt Nam trong số bị điều tra khá bất ngờ, vì cho đến nay, Việt Nam được biết đến nhiều hơn trong tính cách là nước nhập hơn là nước xuất thiết bị điện gió.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Để tìm hiểu rõ hơn về vụ kiện bán phá giá khá lạ thường này, RFI đã đặt câu hỏi cho kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, một người thường xuyên theo dõi các vấn đề thương mại Mỹ &#8211; Việt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>RFI:</strong> Xin kính chào anh Nghĩa và xin được hỏi anh về hồ sơ kiện tụng xuất phát từ bộ Thương Mại Hoa Kỳ liên quan đến các cột điện gió xuất khẩu từ Trung Quốc và Việt Nam vào thị trường Mỹ. Bối cảnh của vấn đề này là gì ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Nguyễn Xuân Nghĩa: </strong>- Quen tính nghịch ngợm, tôi xin được gọi đây là một chuyện&#8230; phải gió và sẽ cố trình bày ngắn gọn về bối cảnh để giải thích tại sao.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Công cuộc kỹ nghệ hóa của nhân loại cần năng lượng và vài chục năm một lần, người ta lại lên cơn lo rằng các nguồn năng lượng cho yêu cầu đó vốn dĩ bị hạn chế sẽ cạn dần so với dân số và đà phát triển của thế giới. Vì vậy, lâu lâu thiên hạ hốt hoảng nói đến việc tìm nguồn năng lượng có khả năng tái tạo, thay vì bị tiêu hủy sau khi sử dụng như than đá hay dầu khí. Song song, người ta cũng lo khí thải của công nghiệp sẽ ô nhiễm môi sinh và gây ra hiện tượng nhiệt hoá địa cầu hoặc hiệu ứng &#8220;lồng kính&#8221;.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Loại năng lượng có khả năng tái tạo và không gây ô nhiễm vì vậy trở thành chuyện ăn khách và ra tiền. Trong loại này có năng lượng hay điện năng từ nước, gọi là thủy điện, từ gió thì gọi là phong năng, hay từ ánh mặt trời là quang năng. Các nguồn năng lượng tái tạo ấy được rất nhiều quốc gia chiếu cố và phát triển, trong thế cạnh tranh tất nhiên gay gắt. Đã vậy, kinh tế thế giới đang ở vào chu kỳ đình trệ khiến xứ nào cũng cố xuất khẩu tối đa và nhập khẩu tối thiểu để thoát khỏi khó khăn ở bên trong. Vì thế, quan hệ giữa các nước bị chi phối nặng bởi chuyện buôn bán giao dịch với nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Năm nay, Hoa Kỳ có tổng tuyển cử nên chính quyền phải chứng tỏ là mình bảo vệ quyền lợi người dân, cụ thể là tạo ra công ăn việc làm. Khi doanh nghiệp Mỹ mà mất mối và than phiền thì chính quyền phải mở cuộc điều tra xem là doanh nghiệp có bị cạnh tranh bất chính hay không. Trong bài diễn văn về Tình hình Liên bang Hoa Kỳ, vào tối Thứ Ba 24 vừa rồi, là bài diễn văn quan trọng nhất trong năm, tổng thống Barack Obama trực tiếp nói đến việc phải ngăn ngừa nạn cạnh tranh bất chính đó. Đấy là về bối cảnh chung.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="https://encrypted-tbn2.google.com/images?q=tbn:ANd9GcRw3leutWqY1yUVZu7014BKWIiBctAonaMk2ZgyeDxJZxOAmp6daQ" alt="" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>RFI:</strong> Từ đó, ta bước vào các lò phát điện bằng sức gió do Trung Quốc và Việt Nam bán cho Mỹ. Họ bán có nhiều không và gây sức ép về cạnh tranh như thế nào mà bộ Thương Mại Mỹ phải điều tra?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Nguyễn Xuân Nghĩa:</strong> &#8211; Thật ra, từ nhiều năm nay, Hoa Kỳ nhập khẩu ngày càng ít hơn loại sản phẩm này, vốn là các tháp rất cao dựng lên để đón gió và dùng sức gió làm xoay turbine để biến thành điện. Qua vụ kiện cáo, ta biết là năm 2010, Mỹ mua tháp gió của Trung Quốc trị giá hơn 103 triệu đô la và của Việt Nam gần 52 triệu đồng, nghĩa là cũng không nhiều gì.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Thế rồi, tháng 12 vừa qua, một hiệp hội gồm bốn doanh nghiệp Mỹ bị mất thầu cung cấp tháp gió tại Mỹ đã khiếu nại với bộ Thương Mại và với một cơ quan độc lập của Hoa Kỳ là Hội đồng Mậu dịch Quốc tế ITC, rằng doanh nghiệp Trung Quốc và Việt Nam được trợ giá nên bán tháp với giá quá thấp, tức là cạnh tranh bất chính. Vì vậy, hôm 18 tháng Giêng, bộ Thương Mại công bố quyết định điều tra hai chuyện. Thứ nhất là doanh nghiệp Trung Quốc và Việt Nam có bán phá giá không và thứ hai có nên đặt ra chế độ áp giá để trả đũa doanh nghiệp Trung Quốc không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Đáng chú ý trong vụ này là hiệp hội đó đòi nâng giá nhập khẩu sản phẩm của Trung Quốc thêm 64% và của Việt Nam thêm 59% cho công bằng. Quan điểm của bộ Thương Mại Mỹ lại gắt gao hơn vì cho rằng sản phẩm Trung Quốc bán vào Mỹ với giá thấp hơn sản phẩm Mỹ tới 213,5%, là rẻ bằng một phần ba, và doanh nghiệp Việt Nam thì rẻ hơn 140%, là rẻ hơn nửa giá của Mỹ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Song song, Hội đồng Mậu dịch Quốc tế ITC của Mỹ cũng mở cuộc điều tra và sẽ cho biết quan điểm vào trung tuần tháng Hai này. Khi họ điều tra như vậy là mọi doanh nghiệp liên hệ của Mỹ có quyền trình bày sự thể theo hướng này hay hướng khác để ảnh hưởng tới quyết định.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>RFI:</strong> Khi anh trình bày là các doanh nghiệp liên hệ của Mỹ có thể tác động &#8220;theo hướng này hay hướng khác&#8221; thì điều ấy có nghĩa là gì?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Nguyễn Xuân Nghĩa:</strong> &#8211; Hãy tưởng tượng là ta có công ty sản xuất tháp gió và doanh nghiệp cung cấp điện năng, có khi là điện từ tháp gió nhập khẩu. Nhà sản xuất máy thì bị cạnh tranh với máy nhập và nhà sản xuất điện chẳng hạn lại muốn mua máy rẻ, dù là máy ở nước ngoài và không muốn có biện pháp áp giá để trả đũa.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Hai loại doanh nghiệp ấy cùng tác động theo hướng đối nghịch với dàn luật sư và chuyên viên kinh tế hay mậu dịch của họ để so sánh giá cả của Mỹ, của Trung Quốc, Việt Nam, hay các xứ khác như Ấn Độ chẳng hạn, nhằm phân giải xem là có nạn trợ giá, cạnh tranh bất chính và có gây thiệt hại cho doanh nghiệp Mỹ hay chăng. Thành thử, trong trận đánh này không chỉ có doanh nghiệp Trung Quốc và Việt Nam đối đầu với doanh nghiệp Mỹ trước sự tài phán của các cơ quan công quyền mà còn có nhiều tác nhân cùng can thiệp vì quyền lợi của họ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>RFI:</strong> Thính giả của chúng ta có thể không mấy ngạc nhiên khi là một trận đánh về mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, nhưng vì sao Việt Nam cũng có mặt trong trận này?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Nguyễn Xuân Nghĩa:</strong> &#8211; Vì vậy tôi mới gọi đó là &#8220;chuyện phải gió&#8221;!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Việt Nam không là đại gia về công nghiệp phong năng hay điện gió mà cũng chả có sản lượng đáng kể &#8211; và trong 10 nhà sản xuất lớn nhất thế giới thì có bốn doanh nghiệp Trung Quốc. Theo như tôi biết thì Việt Nam chỉ có hai nhà sản xuất. Một ở Bà Rịa – Vũng Tầu thì kết hợp với doanh nghiệp Nam Hàn. Doanh nghiệp kia ở huyện Kim Thành tỉnh Hải Dương với số vốn kinh doanh chỉ có 50 triệu đô la thì do thông tin từ phía Trung Quốc mà mình được biết là mua thiết bị của Trung Quốc. Đấy chính là doanh nghiệp bị phía Mỹ khiếu nại là bán phá giá!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Tôi e là Việt Nam bị vạ lây vì mua đồ rẻ của Trung Quốc rối dán nhãn Việt Nam mà bán qua Mỹ và khi phía Hoa Kỳ muốn xử trí với Trung Quốc vì những lý do bên trong nước Mỹ thì Việt Nam ở giữa bị trúng gió&#8230; Chuyện này thật ra không lạ vì Hoa Kỳ và cả Âu châu biết rằng Việt Nam cũng là hành lang tuồn hàng Trung Quốc vào các thị trường Âu-Mỹ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Nhìn từ Hoa Kỳ thì tôi thiển nghĩ rằng nước Mỹ có thiện cảm và thật ra muốn nâng đỡ kinh tế Việt Nam, trong khi vẫn phải canh chừng Trung Quốc về nhiều mặt. Nhưng khi doanh nghiệp và cả nhà nước Việt Nam lại muốn giúp Trung Quốc lọt cửa ải của Mỹ để chinh phục thị trường Hoa Kỳ thì ở đây người ta phải xét lại. Ta có gọi đó là chuyện mắc dịch chắc là không sai !</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="https://encrypted-tbn0.google.com/images?q=tbn:ANd9GcQ5qTPJCuidcJbjT0bddGmImGMJB34kgdJmZUnuwmV5-tPg6Hqq" alt="" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>RFI:</strong> Trở lại phần bối cảnh như anh trình bày, thì trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn mà lại vào một năm tranh cử tại Hoa Kỳ, mâu thuẫn về mậu dịch tất nhiên sẽ chỉ tăng chứ không giảm nên vụ điều tra và kiện cáo này chắc là sẽ tiếp tục trong những ngày tháng tới ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Nguyễn Xuân Nghĩa:</strong> &#8211; Ngay sau khi nhậm chức, tổng thống Barack Obama đã lập kế hoạch gia tăng xuất khẩu gấp đôi trong vòng năm năm để tạo thêm hai triệu việc làm cho dân Mỹ. Đấy là một quốc sách đầy tham vọng và cho thấy nước Mỹ không dễ dàng mở cửa đón nhận hàng hóa của thiên hạ như trong sáu bảy chục năm liền, nhất là khi đã bị bội chi và mắc nợ tới mức kỷ lục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Trong bài diễn văn về Tình hình Liên bang vào tuần trước, ông Obama còn đếm từng trận tranh chấp với Trung Quốc như một thành tích biểu kiến của mình. Ở giữa hai chuyện này là kế hoạch của ông nhằm phát huy công nghệ sạch và nâng đỡ các doanh nghiệp Mỹ sản xuất quang năng hay phong năng đều bề tắc. Mà một doanh nghiệp được chính quyền trợ giúp rất nhiều là Solyndra tại California lại phá sản vì không cạnh tranh nổi với các loại pin mặt trời quá rẻ của Trung Quốc. Vì vậy tôi nghĩ rằng tranh chấp về ngoại thương sẽ còn gia tăng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Sau cùng, riêng với Việt Nam, ta không quên là cùng với chuyện tháp gió, ngày 18 vừa qua bộ Thương Mại Mỹ cũng mở cuộc điều tra về việc doanh nghiệp Đài Loan và Việt Nam bán mắc áo bằng sắt vào Mỹ với giá quá rẻ và gây thiệt hại cho các nhà sản xuất Mỹ. Tức là sau mắc áo Trung Quốc đến lượt mắc áo Đài Loan và Việt Nam cũng đang bị Mỹ chiếu cố!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Năm 2010, Việt Nam bán có 29 triệu đô la mắc áo bằng dây kẽm vào Mỹ và so với số xuất siêu đã đạt với Hoa Kỳ là cả chục tỷ đô la một năm thì không nhiều nhặn gì. Nhưng vì người khôn của khó nên ba doanh nghiệp Mỹ bị thiệt hại đã đầu đơn khiếu nại và Bộ Thương Mại mới phải điều tra xem có nên áp dụng biện pháp trả đũa bằng hàng rào quan thuế hay chăng. Hội đồng Mậu dịch Quốc tế Mỹ cũng đang nghiên cứu vụ này và sẽ có phán quyết vào ngày 13 tháng tới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>RFI:</strong> Thưa anh, sau chuyện cá da trơn có phải là &#8220;catfish&#8221; hay không để vượt qua cửa ải của kỹ nghệ nuôi cá của Mỹ ở bốn tiểu bang miền Nam thì nay lại có chuyện tháp gió và mắc áo. Anh có thấy rằng buôn bán với Hoa Kỳ là chuyện khó khăn cho doanh nghiệp Việt Nam không?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Nguyễn Xuân Nghĩa:</strong> &#8211; Tôi cho là việc gì và ở đâu mà chẳng có những khó khăn riêng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Nhưng từ khi Việt Nam bang giao và mở rộng buôn bán với Hoa Kỳ thì xuất khẩu tăng 300 lần, từ 50 triệu đô la vào năm 1994 tăng vọt lên gần 15 tỷ vào năm 2010, mà nhập khẩu chỉ tăng 20 lần, nên được xuất siêu 11 tỷ trong khi lại bị nhập siêu một ngạch số tương tự với Trung Quốc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Chi tiết ấy cho thấy mối lợi của Việt Nam nằm tại Mỹ. Mà thật ra cả chính quyền lẫn nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ đều muốn cải thiện và gia tăng quan hệ mậu dịch với Việt Nam. Nếu biết được luật chơi của Mỹ, trong đó có cả một rừng luật lệ, thì Việt Nam vẫn có lợi, miễn là đừng dại dột moi tiền của Mỹ cho doanh nghiệp Trung Quốc thì sẽ rơi vào cảnh &#8220;thằng còng làm cho thằng ngay ăn&#8221; mà lãnh cái nạn &#8220;quít làm cam chịu&#8221;.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Câu kết luận ở đây là Việt Nam đừng chơi dại, chưa nói gì đến việc giới dân cử Hoa Kỳ vứa mới phàn nàn với Đặc sứ Thương mại Hoa Kỳ là Việt Nam càng đạt thắng lợi về mậu dịch lại càng thoái trào về nhân quyền. Giới dân cử này mà tác động vào hồ sơ mậu dịch đang thương thảo là người dân Việt Nam lại thêm một tầng khó khăn khác &#8211; và họ phải biết là từ đâu mà ra.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img src="https://encrypted-tbn0.google.com/images?q=tbn:ANd9GcR-aS27RI8Ue2CcNjZJBKWE-IOJbu9zUe3jOHf31jzAnyEkjPbZ" alt="" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>RFI:</strong> Xin cảm ơn chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ.</span></p>
<div style="text-align: justify;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva;">Trọng Nghĩa &amp; Nguyễn Xuân Nghĩa [RFI]</span></strong></span></div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/02/02/thap-gio-b%e1%bb%8b-qu%e1%ba%a1t-ng%c6%b0%e1%bb%a3c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hiệp thông với gia đình Ông Đoàn Văn Vươn</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/01/31/34917/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/01/31/34917/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 Jan 2012 05:03:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Ha Minh Thao</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[THỜI LUẬN]]></category>
		<category><![CDATA[Đoàn Văn Vươn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=34917</guid>
		<description><![CDATA[
Ngôi nhà của ông Đoàn Văn Vươn đã bị san bằng sau vụ cưỡng chế. Ảnh: THẾ DŨNG

Ngày 14.01.2012, Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên, Giám mục Giáo phận Hải Phòng đã gởi thư đến ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: center;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: small;"><img src="http://nld.vcmedia.vn/vXkwsPSHvsCLDtOZMBb9C9UyEnZFcc/Image/2012/01/dat_983e1.jpg" alt="" /><br />
<span style="color: #999999;">Ngôi nhà của ông Đoàn Văn Vươn đã bị san bằng sau vụ cưỡng chế. Ảnh: THẾ DŨNG</span></span></strong></div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="color: #008080;"><strong><br />
Ngày 14.01.2012, Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên, Giám mục Giáo phận Hải Phòng </strong></span>đã gởi thư đến Linh mục Gioan Baotixita Ngô Ngọc Chuẩn, Chánh xứ, và giáo dân Giáo xứ Suy Nẻo để bày tỏ ý kiến của về biến cố vừa xảy ra cho gia đình ông Phêrô Đoàn Văn Vươn :</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- ngay sau vụ nổ súng ngày 05.01.2012, Đức cha đã cử cha Tổng đại diện đến tận nơi tìm hiểu sự việc và, cùng Cha xứ, đến vấn an thân mẫu của ông Vươn ;</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- qua các phương tiện thông tin, Đức cha được biết ông Vươn là người có nhân thân tốt và nhiệt thành cộng tác với các sinh hoạt Giáo xứ ;</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- cũng như nhiều người thiện chí, Đức cha ước mong chính quyền các cấp liên hệ giải quyết thấu tình đạt lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng và danh dự của ông Vươn ;</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- cùng với tín hữu Giáo xứ, Đức cha hiệp thông cầu nguyện cho gia đình ông Phêrô Đoàn Văn Vươn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vì đa số người Việt chúng ta đều là những người thiện chí, nên đồng bào chân thành cám ơn và phấn khởi về bức thư này.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày 18.01.2012, Thư Hiệp Thông của Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam được gởi đến Cha Chánh xứ Suy Nẻo : « hiệp thông và cầu nguyện cho các nạn nhân đang gặp khó khăn trong đợt cưỡng chế bất công này, kể cả sáu vị công an và bộ đội bị thương, vì cách xử lý không minh bạch của Ủy ban Nhân dân huyện Tiến Lãng, TP. Hải Phòng. »</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhân Ngày Hòa Bình Thế Giới 01.01.2012, trong Sứ điệp « Giáo dục người trẻ về Công lý và Hòa bình » gởi cho các cha mẹ, những nhà giáo dục, huấn luyện, các vị trách nhiệm trong các lãnh vực tôn giáo, xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa và truyền thông, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI viết : « Hòa bình cho tất cả mọi người nảy sinh từ Công lý của mỗi người và không ai có thể trốn tránh nghĩa vụ thiết yếu thăng tiến Công lý, theo thẩm quyền và trách nhiệm riêng của mình ».</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sáng mồng 4 Tết Nhâm Thìn (26.01.2012), Linh mục Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong, Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội, đã đi thăm gia đình ông Phêrô Đoàn Văn Vươn, cùng anh Giuse Nguyễn Tiến Đạt, Trưởng Liên đoàn Sinh viên Công giáo Việt Nam và một số anh em khác. Điểm dừng chân đầu tiên là nhà bà cụ thân sinh anh Vươn tại nhà thờ Súy Nẻo. Bà, đã từng tham gia công việc xã hội với chức vụ thôn phó, kể cho mọi người nghe đầu đuôi câu chuyện của ông Vươn và, cuối cùng, đã than rằng: « Bọn chính quyền nó tham lam và ác độc không thể tưởng tượng được ».</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau đó, để chứng kiến tận mắt, bà dẫn mọi người ra thăm khu đầm của ông Vươn, nơi ngôi nhà đã bị chính quyền đổt phá, bà cụ đào bới để tìm bức tượng Chúa Giêsu bằng đồng mà bà hy vọng không bị cháy nhưng rất tiếc là bức tượng đã không còn. Vì ông Phó Chủ tịch Hải Phòng Đỗ Trung Thoại nói rằng: ‘Phá nhà anh Đoàn Văn Vươn là do dân bức xúc đến phá’, nên ai cũng để ý quan sát hiện trường và thấy được các vết của xe ủi và hố đất do máy ủi vục xuống vẫn còn nguyên vẹn. Như vậy, chắc chắn không phải là do dân phá mà là ông Thoại muốn bao che tội ác cho ông Hiền và cũng muốn đánh lừa dư luận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trưa Chúa nhật ngày 22.01.2012, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã ra cửa sổ phòng làm việc để đọc Kinh Truyền Tin chung với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu. Nhân dịp Tân Xuân Nhâm Thìn, Đức Thánh Cha đã chúc Tết các dân tộc Viễn Đông như sau: « Anh chị em thân mến, trong các ngày này, nhiều dân tộc Viễn Đông tươi vui mừng Năm Mới Âm Lịch. Trong tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội hiện nay, tôi cầu chúc tất cả các dân tộc ấy một Tân Niên thực sự ghi dấu CÔNG LÝ và HÒA BÌNH, đem lại thoa dịu cho người khổ đau. Tôi đặc biệt cầu chúc cho các bạn trẻ, với lòng hăng hái và sự thúc đẩy của lý tưởng, có thể cống hiến cho thế giới một niềm hy vọng mới. »</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-JAN-30-12.-Đoàn-Văn-Vươn.png" alt="" width="420" height="315" /><br />
<span style="color: #999999;"><strong><span style="font-size: small;">Đoàn Văn Vươn</span></strong></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium; color: #008080;"><strong>I. KỸ SƯ ĐOÀN VĂN VƯƠN, ÔNG LÀ AI ?</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sáng ngày 05.01.2012, những thông tin ban đầu về Đoàn công tác gồm cán bộ, công an, bộ đội biên phòng do Ủy ban Nhân dân (UBND) huyện Tiên Lãng điều động để cưỡng chế thu hồi đất đầm nuôi trồng thủy sản tại xã Vinh Quang, do ông Đoàn Văn Vươn, cư trú tại xã Vinh Quang, thuê nhưng đến nay đã hết thời hạn (hợp pháp hay không, đang chờ cấp trên xét định) và không chịu đóng thuế đất trong thời gian dài (cần chứng minh). Anh em ông Vươn đã chống lại họ bằng mìn tự chế và súng bắn đạn hoa cải làm bị thương 6 công an và bộ đội. Đến 12 giờ, lực lượng Công an do chính Đại tá Đỗ Hữu Ca, Giám đốc Công an Hải Phòng, trực tiếp chỉ huy tiếp cận được nhà của ông Vươn nhưng các đối tượng đã bỏ trốn. Hôm sau, công an đã bắt giam chủ đầm Đoàn Văn Vươn (sinh năm 1963), Đoàn Văn Tịnh (hay Sịnh, sinh năm 1957, anh ông Vươn), Đoàn Văn Vệ (sinh năm 1974, cháu ông Vươn), Đoàn Xuân Quỳnh (sinh năm 1995, con trai ông Vươn), Nguyễn Thị Thương (sinh năm 1970, vợ ông Vươn), Phạm Thị Báu (tức Hiền, sinh năm 1982, vợ ông Quý). Đoàn Văn Quý (sinh năm 1966, em trai ông Vươn), bị nói là người nổ súng, ra trình diện hôm 07.01.2012 và cũng đang bị giam giữ để điều tra. Ngày 10.04.2012, bị khởi tố các ông : Vươn, Tịnh, Vệ và Quý về tội giết người. Các bà Thương và Hiền về tội chống người thi hành công vụ, song được tại ngoại hầu tra nhưng bị cấm đi khỏi nơi cư trú.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Vụ án ông Đoàn Văn Vươn chống lại việc cưỡng chế của UBND huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) bằng mìn và súng đang làm nóng dư luận cả nước mấy ngày qua. Báo chí ‘lề phải’ đồng loạt lên án một cách mạnh mẽ nhưng ngày càng ‘thức tỉnh’ trước những lời tuyên bố ‘buồn cười’ và trái ngược của các lãnh đạo cộng sản tại Hải phòng. Ông Đoàn Văn Vươn là người thế nào?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>A. Thành công trong lao động</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Đoàn Văn Vươn lớn lên trong một gia đình có 7 anh chị em được báo chí tuyên dương là có truyền thống cách mạng. Thân phụ ông tên Đoàn Văn Thiển, đã từng cả đời ‘theo đảng đến cùng’, cống hiến cho đảng tất cả với chức Bí thư Đảng ủy xã trong 20 năm và đã chết cách đây 6 năm, sau khi về hưu. Chú rể ông Vươn (chồng cô ruột) tên Đoàn Xuân Lễnh, hiện là quan chức của nhà nước đang nắm giữ một tổ chức phá đạo, mạo danh là ‘Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hải Phòng’ với chức Phó Chủ tịch. Đây là cái chức mà không phải ai cũng có thể làm được, nhất là khi là một người công giáo chân chính. Ông còn là Hội thẩm nhân dân Tòa án Nhân dân Hải Phòng. Như vậy, thế hệ trước của gia đình anh đã có những đóng góp lớn cho Đảng, kể cả về mặt đạo.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bản thân ông Đoàn Văn Vươn, sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, ông Vươn đã học tiếp hệ tại chức Đại học Nông nghiệp, trở thành kỹ sư nông nghiệp, là người hiền lành, chăm chỉ làm ăn và chưa từng có tiền án, tiền sự. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Một người có lý lịch tốt như vậy, nếu ông Vươn cứ theo gương bố anh leo lên chức Bí thư Đảng ủy hay cao hơn vì, với tấm bằng kỹ sư nông thôn lúc bấy giờ, thì hôm nay có lẽ anh là người cầm súng đi cưỡng chế chứ không phải là nạn nhân. Nhưng, có lẽ cuộc đời bố anh theo đảng đã để lại một bài học nào đó, nên tất cả 7 anh em của anh không ai là đảng viên mà chọn cho mình một lối đi khác là tự lực cánh sinh, dùng sức người để đọ với thiên nhiên hầu mưu sinh. Nào ngờ khi ‘vật chất quyết định ý thức’ (Mác–Lênin) thì tất cả những đóng góp công lao của bố, của chú… đều chẳng có ý nghĩa gì nếu anh không nằm trong bộ máy quyền lực. Những công lao, đóng góp kia chỉ dành cho những kẻ trong bộ máy phạm tội muốn thoát khỏi sự trừng phạt pháp luật thì được nại đến mà thôi. Rồi đây, ông Đoàn Xuân Lễnh sẽ làm gì với vai trò Phó Chủ tịch UBĐK Công giáo Hải Phòng và Hội thẩm nhân dân TAND Hải Phòng khi cháu ông bị bất công đến thế? Hàng năm, cái gọi là ‘Ủy ban Đoàn kết Công giáo’ tổng kết tốn biết bao tiền dân mà mục đích chỉ nhằm lấy công sức những người như ông Đoàn Văn Vươn làm tấm gương để ‘động viên giáo dân’ làm giàu, học tập đạo đức Hồ Chí Minh rồi thuổng luôn thành quả của họ để báo cáo thành của mình?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Năm 1993, ông Đoàn Văn Vươn lấy vợ người xã Vinh Quang, thuộc giáo xứ Súy Nẻo, rồi cùng gia đình ở luôn chỗ này để lấn biển lấy đất mưu sinh. Cùng em trai Đoàn Văn Quý đầu tư vào đầm nuôi thủy sản, ông Vươn cùng vợ con ra bãi bồi ven biển, cải tạo khu vực nuôi tôm. Giữa trùng dương bão tố, các anh em không chỉ đem sức mình mà còn vay mượn nợ nần để làm công việc không ai nghĩ thành công. Hơn thế nữa, con gái ông mới 8 tuổi học lớp 2 đã phải mất mạng vì ao, đầm ông đào đắp lấn biển. Đứa cháu ông đến chơi không may cũng ngã vào ao đầm và chết ở đó. Với bao công sức, mồ hôi nước mắt ông bỏ ra ở đây, không một ai không xót xa và thán phục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong bài ‘Ông Đoàn Văn Vươn là người như thế nào?’ phát đi ngày 09.01.2012, phóng viên Ðài Á châu Tự do Nhân Khánh thuật lại rằng : « người dân địa phương xã Vinh Quang, bên cạnh những câu trả lời từ chối vì ‘tôi sợ lắm. Tôi không dám nói đâu. Vâng, thông cảm nhé’, cũng có những tiếng nói thốt lên sự thật ‘Anh ấy học Đại học Nông nghiệp ra. Anh chị ấy là người làm ăn chuyên cần, hiền lành ấy mà. Anh ấy xuống đây làm, nói chung là anh ấy bỏ ra công sức làm cái đồng này. Chúng tôi là người dân ở gần, anh chị sống rất là tốt, không có vấn đề gì. Anh ấy ở trên Bắc Hưng xuống đây. Anh chị quan hệ, sống tốt với dân làng. Trong xóm làng có công, có việc gì mời chào thì anh chị vẫn tham gia. Anh bỏ ra nhiều công sức vào cái đồng ấy, chắc là đền bù không phù hợp nên anh ấy không đồng ý’.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong khi đó, ông Chánh văn phòng UBND huyện Tiên Lãng Ngô Ngọc Khánh khẳng định rằng ông Vươn không phải là người tốt. Anh chẳng có công lao gì, cũng chẳng phải là người đi đầu vì sử dụng hàng chục ha đất và thu lời nhưng không đóng góp gì cho địa phương. Theo ông Khánh, nhiều năm qua anh Vươn hoàn toàn ăn không, anh ta đắp đê để thu lợi cá nhân chứ có ích gì cho xã hội… và ‘quên’ bao ‘lì xì’ cho đồng chí Chánh văn phòng. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thiếu tướng Huỳnh Đắc Hương, Cục Trưởng Tổng cục chính trị, đưa ra một ví dụ điển hình, câu chuyện chống người thi hành công vụ ở Tiên Lãng không phải bây giờ mới có. Trước đây, ở Thái Bình, chính quyền đã từng bán đất của nhân dân để mua ô tô, làm sân tennis, khiến cho nhân dân uất ức mà chống đối. Điều này cho thấy, sự chống đối của người dân xuất phát từ cách làm của chính quyền địa phương mà ra. Năm 1999, nhân một chuyến du lịch, tôi cùng gia đình và một số đồng đội của mình đã ghé thăm khu đầm nuôi trồng thủy sản của gia đình ông Đoàn Văn Vươn. Khi đó, ông Vươn và gia đình họ Đoàn nổi lên là một điển hình nông dân làm kinh tế giỏi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Vươn là một người giáo dân tốt và ông sống với bà con dân làng ở đây không mất lòng ai. Nên, đầm nuôi thủy sản của ông ấy không phải trông giữ vì dân thương ông, không muốn ra đấy bắt tôm hay trộm cắp cái gì của ông cả. Ông đối xử với dân làng ở đây rất tốt, như đến tết Trung thu hoặc cắm trại của các cháu, ông đều có quà. Khi gia đình có người qua đời là ông đều vào thăm viếng hết.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ông Phạm Văn Danh, nguyên Bí thư đảng ủy xã Vinh Quang nói : « Lúc nó (Anh Vươn) xuống xin làm, tôi lắc đầu khuyên là không làm nổi đâu, nhà nước còn không làm nổi nữa là… Nhưng để thực hiện ‘canh bạc’ với trời đất, ông Đoàn Văn Thiểu, bố của Vươn đã phải bán đàn vịt 1.000 con và 20 tấn thóc. Vươn huy động tất cả anh chị em cùng bà con, làng xóm cùng tiến ra vùng biển hoang… Nhiều năm vật lộn với trời đất giờ được đền đáp bằng bờ kè hơn hai km, tạo nên bãi bồi màu mỡ, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động địa phương. Khu đầm, bờ đê còn là lá chắn vững chãi cho khu dân cư phía trong đê, an toàn hơn trước. Tôi và cả xã Vinh Quang không ngờ. » </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>B. Tiến trình nội vụ</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thực thi chủ trương thành phố mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản ngoài bãi sa bồi ven biển, ngày 04.10.1993, UBND huyện Tiên Lãng đã ban hành quyết định số 447/QĐ-UB giao cho gia đình ông Vươn 21 ha đất bãi biển thuộc địa bàn hành chính xã Vinh Quang (phía Tây cống Rộc) để nuôi trồng thủy sản với thời hạn 14 năm. Anh em ông Vươn đắp đê ngăn nước để nuôi trồng thủy sản, sau nhiều năm khắc phục, đã có kết quả tốt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày 02.03.1997, ông Vươn có đơn xin giao đất bổ sung phần diện tích mà ông đã đắp bờ bao để sử dụng vượt quá diện tích được giao. Ngày 09.04.1997, UBND huyện đã ra quyết định số 219/QĐ-UB xử phạt hành chính 1 triệu đồng vì hành vi lấn chiếm đất đai của ông Vươn và, cùng ngày, ban hành Quyết định số 220/QĐ-UB giao bổ sung cho ông 19,3 ha là phần đất ông sử dụng vượt so với quyết định giao ban đầu, đều có thời hạn 14 năm. Do đó, tổng diện tích ông Vươn được UBND huyện Tiên Lãng giao để nuôi trồng thủy sản là 40,3 ha. Ông Vươn tạo thành đất đầm ao, rồi nhà nước ‘thu hồi’.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đến đây, chúng ta thấy có điểm lạ là vì phần đất bồi ra biển do công gia đình ông Vươn tạo ra để cho lãnh thổ Việt Nam có thêm 19,3 ha. Đề nghị chúng ta xem Giáo huấn xã hội Công giáo:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">1. Mục Đích Phổ Quát của Của Cải Vật Chất</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngay đầu Kinh Thánh, chúng ta đọc được lời nầy: « Hãy lan tràn khắp mặt đất, khắc phục trái đất » (St 1, 28). Lời đó dạy chúng ta rằng tất cả vũ trụ này được tạo dựng cho con người: con người có bổn phận phải dùng tài năng của mình để tăng giá trị của vũ trụ, và dùng việc làm của mình mà hoàn thành vũ trụ để hưởng dùng. Nếu trái đất đã tạo dựng nên để cung cấp phương tiện sinh sống và công cụ thăng tiến cho mỗi người, thì mỗi người có quyền tìm thấy ở đó những điều kiện cần thiết cho mình. Công Đồng Vatican II cũng đã nhắc lại điều đó rằng: « Thiên Chúa đã tạo dựng trái đất và mọi vật trên đó là để mọi người và mọi dân tộc sử dụng, vì thế của cải trần gian phải tràn đầy đồng đều trong tay mọi người, theo luật công bằng, là một luật đi liền với bác ái » (Vui Mừng và Hy Vọng số 69). Định luật này phải được ưu tiên trên mọi quyền hạn khác, bất cứ là quyền nào, kể cả quyền tự do buôn bán. Các quyền khác không những không được cản trở mà trái lại phải giúp định luật này thể hiện dễ dàng, và bổn phận xã hội quan trọng và cấp bách nhất là phải qui hướng các quyền nói trên về cùng đích tiên khởi của chúng. (Phát triển các dân tộc, Populorum Progressio, số 22)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">2. Quyền Sở Hữu</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nhờ lao động và nhờ tận dụng khả năng trí tuệ, con người có khả năng thống trị trái đất và biến nó thành một nơi thích hợp : « Bằng cách đó, con người biến một phần trái đất thành của mình, chính xác hơn là biến phần trái đất mà mình đã thu được thông qua lao động ; đây chính là nguồn gốc của sở hữu. » (Thông điệp Bách Niên, Centesimus Annus, số 31)</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Do đó, quyền sở hữu hay một quyền lợi nào đó trên tài sản vật chất đảm bảo cho mỗi người một lãnh vực cần thiết cho sự tự lập cá nhân và gia đình, được coi đó như một mở rộng tự do con người. Sau cùng quyền tư hữu thôi thúc thi hành trách nhiệm. Đó là một trong những điều kiện của tự do chính trị và có một vai trò xã hội nội tại có nền tảng trong luật dụng đích tài sản công cộng. Một khi lãng quên tính cách xã hội đó thì lắm khi quyền sở hữu trở nên cơ hội cho những tham vọng và nguyên nhân đưa đến những xáo trộn trầm trọng và nên cớ cho nhiều người phủ nhận quyền sở hữu…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bởi vậy, như các quốc gia tự do khác, khi thiết lập nền Cộng Hòa cho Việt Nam, cũng là lúc cố Tổng thống Ngô Đình Diệm phải định cư gần một triệu đồng bào lánh nạn từ Miền Bắc. Những người này được chính quyền giúp đỡ để khai phá các vùng đất hoang để xây dựng nhà cửa hay cất nhà thờ, chùa… và được công nhận quyền sở hữu trên phần đất đai đó. Ngoài ra, thời Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có đất công hay tư, chứ không có sự kỳ thị với loại đất đai tôn giáo như, ngày nay, thời Chủ nghĩa xã hội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Xin trở lại trường hợp Ông Đoàn Văn Vươn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium; color: #008080;"><strong>II. TIẾN TRÌNH CƯỠNG CHẾ</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thình lình, ngày 07.04.2009 UBND huyện Tiên Lãng ban hành Quyết định số 461/QĐ-UBND thu hồi 19,3 đất giao đã hết hạn sử dụng đối với ông Vươn. Ông Vươn đã kiện vụ án hành chính lên Tòa án nhân dân Hải Phòng. Ngày 09.04.2010, Tòa này mời ông Vươn và đại diện UBND huyện Tiên Lãng đến để giải quyết và đôi bên đã thỏa thuận:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- UBND huyện Tiên Lãng có nhiệm vụ tiếp tục làm thủ tục giao đất cho ông Vươn thuê 40,3 ha của gia đình ông nuôi trồng thủy sản, để sinh lợi kinh tế cho gia đình và xã hội.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hoặc:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">- Ông Đoàn Văn Vươn có nhiệm vụ làm đơn đề nghị UBND huyện Tiên Lãng cho thuê 40,3 ha để nuôi trồng thủy sản.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nếu hai bên nhất trí như vậy thì, ngay hôm này, ông Đoàn Văn Vươn phải rút đơn kiện UBND huyện Tiên Lãng. Do đồng thuận như vậy, nên ông Vươn đã rút đơn kiện. Nhưng, sau đó, ông Vươn đã nhiều lần làm đơn đề nghị ký lại hợp đồng thuê đất tiếp, nhưng UBND huyện không chịu ký như họ đã thỏa thuận tại Tòa án nhân dân Hải Phòng ngày 09.04.2010.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày 24.11.2011, ông Lê Văn Hiền, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng ký Quyết định số 3307/QĐ-UB : sau 15 ngày, nếu không bàn giao, vùng nuôi thủy sản sẽ bị cưỡng chế ‘thu trắng đất nuôi trồng thủy sản, không bồi hoàn phí tổn, kinh phí xây dựng khoanh vùng nuôi trồng thủy sản của gia đình ông Vươn. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sáng ngày 05.01.2012, cuộc cưỡng chế được tiến hành… Anh em ông Vươn đã chống lại họ bằng mìn tự chế và súng bắn đạn hoa cải làm bị thương 6 công an và bộ đội…</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><em>A. Quốc gia pháp trị</em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn tự cho là quốc gia pháp trị nhưng vì là nước độc đảng nên tam quyền (hành, lập và tư pháp) đều nằm trong tay các đảng viên. Thêm vào đó, những ứng cử viên cơ quan các cấp đều phải có sự giới thiệu của Mặt trận Tổ quốc, cắt cử bởi Đảng. Vụ án ông Đoàn Văn Vươn do các ‘công bộc’ Hải Phòng đang giúp chúng ta thấy rõ Việt Nam, quốc gia pháp trị hay không.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Bởi vậy, khi ông Lê Văn Hiền, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, cho là ông Đoàn Văn Vươn không chịu sớm giao trắng (không có bồi thường) đất nuôi trồng thủy sản mà cứ khiếu kiện. Thưa đồng chí Hiền, tại quốc gia pháp quyền, khi người dân cho rằng một quyết định liên hệ nào bất hợp pháp đều có thể khiếu kiện trước các thẩm quyền tư pháp được quy định bởi Hiến pháp 1992 (điều 127) và Luật Khiếu nại, tố cáo, sửa đổi bổ sung ngày 22.11.2005.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><em>B. Thời hiệu cho thuê đất nông nghiệp</em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Quyết định số 447/QĐ-UB ngày 04.10.1993, UBND huyện Tiên Lãng giao cho gia đình ông Vươn 21 ha đất, với kỳ hạn 14 năm, chiếu theo Luật Đất đai năm 1987 không quy định thời hạn. Luật Đất đai năm 1993 ngày 14.07.1993, có hiệu lực từ ngày 15.10.1993. Điều 4, Nghị định 64 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 1993 quy định rõ những đất giao trước ngày 15.10.1993 phải được tính thời hạn 20 năm. Như vậy, đất giao cho gia đình ông Vươn phải tính theo thời hạn 20 năm tức chỉ đáo hạn vào ngày 03.10.2013, tức chưa tới ngày đòi lại, chứ chưa nói gì tới việc cưỡng chế. Còn phần đất 19,3 ha đến ngày 08.04.2017 mới đáo hạn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Việc cho rằng đây không phải là đất nông nghiệp là một sự sai trái và phi lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><em>C. Mục đích thu hồi và cưỡng chế đất đai</em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Về mục đích thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng, trong khi ông Lê Văn Hiền, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng cho rằng không thể tiết lộ, thì Giám đốc Công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca thì nói với báo chí, khu vực đầm tôm cưỡng chế giải tỏa sẽ là tâm điểm xây sân bay trong thời gian tới. Vậy có quy hoạch chưa ? Dư luận xã hội đến với người dân xã Vinh Quang được biết : ‘Lê Văn Hiền là Chủ tịch huyện là anh ruột của Lê Thanh Liêm, Chủ tịch xã Vinh Quang, tức là anh ở trên huyện còn em là ở dưới, cho nên bằng mọi giá là lấy bằng được đồng của Vươn để mà giao cho người khác’. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Theo ông Nguyễn Duy Lượng, Phó Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam, ‘Dư luận có nói, thu là để cho em trai ông chủ tịch huyện nhưng việc này các cơ quan đang tìm hiểu, chưa rõ ra được’. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Theo phép Công bình và bảo đảm sự ổn định kinh doanh những như quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật đất đai 2003, khi hết hạn hợp đồng thuê đất nông nghiệp, người sử dụng đất được chính quyền địa phuơng ưu tiên tiếp tục cho thuê đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất đã chấp hành đúng pháp luật, đồng thời việc sử dụng đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt. Nếu thật sự phần đất này được dùng để xây sân bay, thì chính quyền phải bồi thường, dựa theo thỏa thuận hay sổ sách kế toán.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nếu cơ quan Nhà nước thẩm quyền kết luận quyết định thu hồi đất này </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">không hợp luật, về nguyên tắc, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng phải chịu trách nhiệm chiếu theo Điều 6 Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 27.10.2007 quy định chế độ trách nhiệm đối với lãnh đạo cơ quan, đơn vị Nhà nước khi thi hành công vụ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><em>D. Phá hoại và cướp phá tài sản người dân</em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>1.- Bà Nguyễn Thị Thương, vợ ông Vươn, </strong>cho biết: </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">« Khi đoàn cưỡng chế xuống đầm, anh Vươn không có mặt ở đó do đang đi khiếu nại rồi bị bắt ở Viện Kiểm sát. Còn em và em dâu, cháu và anh trai em cùng một đứa con còn đi học đang đứng trên đê với mọi người. Khi không bắt được mấy anh em, thì họ đến bắt hai chị em em và anh trai ông Vươn tên là Đoàn Văn Thịnh. Họ khóa tay lại bằng còng số 8 đưa ra thành phố, vừa đi và bị đánh đập đau lắm. »</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>2.- Khi thi hành việc cưỡng chế đất nuôi thủy sản,</strong> đoàn công tác đã san bằng căn nhà 2 tầng của ông Vươn. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chiều ngày 12.01.2012, UBND Hải Phòng họp báo về vụ cưỡng chế dẫn đến nổ súng tại đầm thủy sản của ông Đoàn Văn Vươn, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền lại cho biết, căn nhà này bị phá hủy vì ‘đây là vị trí kẻ gây án ẩn nấp’. Việc phá ngôi nhà không thuộc diện cưỡng chế với lý do là nơi cố thủ để tấn công lực lượng cưỡng chế mà Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng đưa ra là không có căn cứ, không dựa quy định nào của pháp luật cho phép tiến hành một việc như vậy, có thể suy luận là để ‘phi tang’ chứng tích phạm tội của phạm nhân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau đó, sáng 17.01.2012, Phó chủ tịch UBND Hải Phòng Đỗ Trung Thoại lại cho rằng việc san phẳng căn nhà gia đình ông Vươn sau vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng không phải bởi lực lượng của huyện mà do ‘nhân dân bất bình nên vào phá’. Do đó, tác giả Bùi Hoàng Tám đã viết trên báo Dân Trí ngày 18.01.2012, dưới tựa đề ‘Vì sao lại vu oan cho Nhân dân?’, gọi thẳng giải thích của ông Thoại là ‘vô liêm sỉ’ : « Một sự vu oan giá họa, trắng trợn đổ tội cho nhân dân và đó là câu dối trá vô liêm sỉ nhất… từ miệng một quan chức chính quyền cấp tỉnh ».</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">3.- Vơ vét thủy sản trong đầm của ông Vươn.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Sau khi cưỡng chế, toàn bộ 40 ha đầm nuôi thủy sản đã công an xã được giao nhiệm vụ canh giữ, rất nhiều thanh niên lạ mặt, có trang bị vũ khí túc trực ở đây 24/24h. Dù vậy, hai bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) và Phạm Thị Hiền (vợ ông Quý) và nhiều người dân khác đã nói với báo Vietnamnet trong những ngày sau cuộc cưỡng chế, nhiều người lạ mặt đã sử dụng các phương tiện đánh bắt bằng điện như kích điện, te điện… thu hoạch số thủy hải sản mà gia đình các chị đầu tư, nuôi thả từ đầu năm 2011.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngày 27.01.2012, Đài Á châu Tự do đang tin từ các báo Thanh Niên, Đất Việt trích lời em dâu ông Vươn cho biết, toàn bộ 5.000 con cá vược loại 1-1,5 kg/con, 7.000 con cá trắm, trọng lượng 2-3 kg/con, 3.000 con cua giống đã bị đánh bắt hết., 7.000 con cá trắm thương phẩm và 3.000 con cua giống đã bị đánh bắt theo kiểu khoắng toàn bộ. Một nhân chứng nói với các nhà báo rằng, sáng 06.01.2012, một ngày sau vụ cưỡng chế bi thảm, đầm thủy sản nhà ông Vươn đã bị tháo nước và hôm sau có nhiều người lạ mặt xuống thu họach tất cả cá cua. Tính tổng trị giá cá nuôi đã lên tới hơn 1,5 tỷ đồng; chưa kể cua, tôm tự nhiên và hàng ngàn buồng chuối. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">4.- Vấn đề bồi thường nhà và đầm thủy sản. </span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Về tình hình gia đình họ Đoàn, sáng mồng một Tết, chị Thương, chị Hiền cùng các cháu ra bãi đầm nhà chị dựng một cái lều bạt cũ để ở tạm sau khi những người đánh bắt tôm cá tại đầm này đã rút về hết. Chị Hiền nói: « Hôm mùng một Tết thì những người giữ đầm rút hết nên chúng tôi về lại đầm dựng một cái lều bằng bạt ở ngoài đó. Gia đình hiện đang tập trung ở ngoài đó. Bây giờ phải chấp nhận thôi, chúng tôi sống vất vả quen rồi ».</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tại các quốc gia dân chủ, cử tri trao quyền lãnh đạo, trong đó có bổn phận phải bảo đảm an ninh và tài sản, cho chính quyền thì khi chính quyền không làm tròn hay có sai phạm thì phải bồi thường. Do đó, tại các quốc gia có đa đảng, thì sự chế tài chính trị là người dân sẽ tín nhiệm ứng cử viên đảng khác lần đầu phiếu sau. Tại Việt Nam, người dân không có thể có sự lựa chọn nào khác như trường hợp ‘gia đình trị’ tại đây : Lê Văn Hiền là Chủ tịch huyện Tiến Lãng là anh ruột của Lê Thanh Liêm, Chủ tịch xã Vinh Quang.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong><em>E. Ông Đoàn Văn Vươn bị đánh đập trong trại giam</em></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hôm 25.01.2012, một người ở cùng trại tạm giam với ông Đoàn Văn Vươn vừa được tại ngoại, đã cho bà Thương biết ông Vươn bị đánh. Ông này cho biết : « Anh Vươn mới vào trại liền bị quản giáo buồng giam K nện cho trên 10 gậy cao su vào mông và vào đùi với lý do ‘không báo cáo cán bộ’ và, khi khác bị mắng : ‘CIA Mỹ huấn luyện cho chúng mày này! Bố mày giết chết này… Mày thích gẫy tay không?’</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tại sao phải đánh người ta ? ‘Đánh cho không có tội cũng phải nhận’ khi hỏi cung gay gắt của công an, sau những trận đòn thập tử nhất sinh vượt quá sức chịu đựng của một con người. Ai cũng thừa kinh nghiệm để biết rằng những người này hoàn toàn vô tội, nhưng với cái gọi là công lý của cái Xã hội Chủ nghĩa, thì mọi sự việc đều bị đổi trắng thay đen, kẻ vô tội biến thành có tội. Muốn tồn tại chỉ còn một con đường duy nhất: Nhận tội và xin khoan hồng! </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Lực lượng cưỡng chế đã xâm nhập trái phép vào phần đất của mình thì ông Đoàn Văn Vươn phải tự vệ. Ông là người sống có tình khi chỉ dùng súng hoa cải, một loại súng để săn chim, không thể làm chết người, nếu không ông đã mua một khẩu AK khá dễ dàng. Mìn ông dùng cũng là loại sơ chế bằng thuốc súng của đạn hoa cải. Nếu muốn, ông đã có thể mua thuốc nổ TNT không khó ở Việt Nam. Trái mìn được dấu dưới bình hơi đốt, chỉ là một sự ngụy trang để không bị phát hiện mà thôi. Sức công phá của mìn chế bằng thuốc súng đạn hoa cải không đủ sức công phá để cái bình hơi đốt nổ theo, nhất là khi đó là cái bình không còn hơi đốt thì làm sao mà nổ được. Điều đó chứng tỏ, dù đang bị bức bách vào bước đường cùng, bị dồn vào chỗ chết, ông Vươn vẫn là một người có lòng nhân ái. Do đó, sáu nạn nhân của cuộc cưỡng chế ăn cướp này chỉ bị thương nhẹ, không bị ‘trọng thương’ như công an và báo đài đảng đã nói láo. Chỉ một người bị hơi nặng vì viên đạn hoa cải trúng vào mắt, không ai bị thương tích gì nặng đến nỗi phải tiếp máu, hay vô nước biển, hay phải giải phẩu cấp cứu cả. Biết được như vậy là do ông Nguyễn Xuân Diện và bà kiến trúc sư Ngô Thanh Vân đã nhìn tận mắt thương tích của các anh bộ đội và công an này, khi đến ủy lạo các nạn nhân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Người này đề nghị gia đình nên gởi chăn và thức ăn vào cho anh vì phòng giam chật hẹp, và điều kiện sinh hoạt, ăn uống khó khăn và bị giam cùng các bị can phạm tội hình sự khác. Nghe vậy, gia đình rất lo lắng và dự định sẽ viết một lá đơn kêu oan đến các cơ quan chức năng, nếu không thì sợ là các anh ấy không đảm bảo sức khỏe.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hôm mồng 3 Tết, ngày 25.01.2012, Giáo Hội dành riêng để thánh hóa công ăn việc làm, giúp cho người Kitô hữu hiểu rõ giá trị của lao động: trí óc và bàn tay. Nh ân dịp Tết Nguyên đán, chúng ta chúc nhau: « Năm mới, làm ăn thịnh vượng, phát đạt&#8230; ». Điều đó cho thấy người Việt Nam chúng ta rất coi trọng người lao động và hành động của họ đã tạo sản phẩm và lương thực cho xã hội mà gia đình ông Đoàn Văn Vươn là những trường hợp điển hình. </span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chúng ta cùng hiệp thông cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình cho các thành viên gia đình này cũng như những người bị thương trong biến có này.<strong> </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong>Hà-Minh Thảo<br />
</strong></span>1/28/2012</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/01/31/34917/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Miền Nam và Miền Bắc</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/01/31/mi%e1%bb%81n-nam-va-mi%e1%bb%81n-b%e1%ba%afc/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/01/31/mi%e1%bb%81n-nam-va-mi%e1%bb%81n-b%e1%ba%afc/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 Jan 2012 05:03:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>TS. Nguyen Hung Quoc</dc:creator>
				<category><![CDATA[BIÊN KHẢO VĂN HỌC]]></category>
		<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT]]></category>
		<category><![CDATA[Chế độ cộng sản Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Miền Nam và Miền Bắc]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=34834</guid>
		<description><![CDATA[Miền Nam và Miền Bắc
Những bài tham luận này, tuy đã được đăng tải vài năm trước đây, nhưng vẫn có hiệu lực cập nhật một tình trạng chưa thay đổi của chế độ cộng sản Việt Nam.  ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; color: #008080; font-size: x-large;"><strong>Miền Nam và Miền Bắc</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Những bài tham luận này, tuy đã được đăng tải vài năm trước đây, nhưng vẫn có hiệu lực cập nhật một tình trạng chưa thay đổi của chế độ cộng sản Việt Nam.  [Toà soạn <em>Việt Thức</em>].</span></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong></strong><img style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-81-DEC-15-MANDA-PICTURE-100-jpg.jpg" alt="" width="224" height="225" /></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Mới đây, đọc trên blog của nhà phê bình Vương Trí Nhàn ở trong nước, tôi bắt gặp một đoạn nhan đề “Gợi ý từ một nhà kinh tế” với một số nhận xét bất ngờ và thú vị. Đoạn viết khá ngắn, tôi xin phép được chép nguyên văn:</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>“Ông Đặng Phong, một nhà lịch sử kinh tế qua đời. Tôi biết ông nhân một lần đọc cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 do ông chủ biên, thấy có nhắc thoáng qua một điều gần như ai cũng nghĩ nhưng ít ai viết: trước 1975, kinh tế Miền Nam đã ở trình độ cao hơn kinh tế Miền Bắc.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>Tự ngẫm nghĩ, thì thấy đúng thế, không thể khác được, không thể nói ngược như chúng tôi vẫn nói, hoặc lảng tránh cho là cấm kỵ, và lấy những chuyện khác nói át đi.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục Miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người Miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>Như vậy dễ dàng công nhận là trình độ sống của bà con trong ấy cao, nhất là dân thành phố. Dấn thêm một bước, trong đầu tôi thấy vụt lên cái ý, liệu có thể nói rằng, xét trên phương diện hiện đại hóa, là con đường tất yếu mà xã hội phải trải qua, nhân dân Miền Nam đã đi xa hơn, đạt tới tầm mức văn hóa cao hơn? Như vậy bản thân khái niệm văn hóa mà lâu nay tôi vẫn hiểu cũng phải được xem xét lại chăng?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>Tôi sẽ tự phản bác lại nhiều lần trước khi đi đến kết luận …</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><em>Nhưng càng <a href="http://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/09/ghi-chep-hang-ngay-10.html" target="_blank">đọc Đặng Phong</a> ý tưởng trên càng không rời khỏi tôi.”</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đúng như Vương Trí Nhàn nói, điều Đặng Phong và ông nhận xét “gần như ai cũng nghĩ nhưng ít ai viết”. Bản thân tôi đã nghe một nhận xét như thế từ một bậc tài hoa nhưng nổi tiếng bảo thủ ở Miền Bắc: nhà phê bình Hoài Thanh. Sau năm 1975, Hoài Thanh và bà vợ dọn vào Sài Gòn ở. Có hai hay ba lần gì đó, đâu khoảng 1980, một người thầy cũ thường rủ tôi đến thăm ông. Câu chuyện thường lan man từ văn học đến xã hội. Một lần, Hoài Thanh chép miệng nói, đại khái: “Bản chất của chế độ nguỵ là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào.”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đặng Phong so sánh về kinh tế, Hoài Thanh nói về văn hóa ứng xử, còn Vương Trí Nhàn bàn về văn hóa nói chung. Người ta có thể thắc mắc: Vậy, ở những lãnh vực khác thì sao? Như văn học, mỹ thuật hay âm nhạc, chẳng hạn? Có gì khác giữa Miền Nam và Miền Bắc cũng như giữa Miền Nam trước đây và cả nước bây giờ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong một <a href="http://www.viet-studies.info/VTNhan/VTNhan_VanHocMienNam.htm" target="_blank">bài phỏng vấn</a> do Thụy Khuê thực hiện, in trên tạp chí Hợp Lưu số 103 ra vào tháng 1 và 2, 2009, sau, đăng lại trên trang Viet-studies của Trần Hữu Dũng, cũng chính Vương Trí Nhàn đã nêu lên một nhận xét sơ khởi. Theo ông, so với văn học Miền Bắc, văn học Miền Nam thể hiện “rõ hơn” và “đầy đủ hơn” những “đau khổ của con người” và những “tình thế bi thương, đau đớn, cả sự bơ vơ, bất lực, trong đời sống”. Khác với văn học Miền Bắc, văn học Miền Nam, một mặt, tiếp nối được truyền thống cách tân trong văn học tiền chiến; mặt khác, tiếp cận được với văn học thế giới, “sử dụng các quan niệm các phương thức của văn hóa Phương Tây để diễn tả đời sống con người hiện đại”. Văn học Miền Nam cũng có những yếu tố hiện thực và nhân đạo mà văn học Miền Bắc không có.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tất cả những nhận xét nêu trên, về kinh tế, văn hóa hay văn học đều khá sơ lược. Một sự so sánh công bằng và chính xác cần nhiều nỗ lực hơn nữa. Vần cần xuất phát từ một tầm nhìn cao hơn nữa. Tiếc, những nỗ lực và tầm nhìn ấy, cho đến nay, vẫn còn tiềm ẩn đâu đó. Trên sách vở cũng như trong học đường, văn học và văn hóa Miền Nam vẫn còn để trống, không ai nhắc đến, hoặc nếu nhắc, cũng nhắc với sự xuyên tạc và mạ lị như trong thời kỳ còn chiến tranh. Cách đây mười mấy năm, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên ở Hà Nội dự định nghiên cứu về Thanh Tâm Tuyền và nhóm Sáng Tạo ở Sài Gòn vào nửa sau thập niên 1950, tuy nhiên, ông đã bị đả kích kịch liệt, cuối cùng, đành bỏ cuộc. Hiện nay, theo chỗ tôi biết, cũng chưa có ai tiếp tục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cũng xin nói luôn, trích lại đoạn văn của Vương Trí Nhàn cũng như kể lại lời nhận xét của Hoài Thanh, tôi không hề muốn khoét sâu vào óc kỳ thị địa phương vốn đầu độc mối quan hệ giữa những người cùng một nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thứ nhất</strong>, sự kỳ thị và chia rẽ vùng miền ở Việt Nam đã quá trầm trọng; chúng ta không cần và cũng không nên làm trầm trọng thêm nữa. Nó không có ích gì cả. Ở một thời đại toàn cầu hoá như hiện nay, khi mọi người đang tìm cách xoá mờ dần ranh giới và những khoảng cách giữa các quốc gia cũng như giữa các nền văn hoá, luôn luôn đề cao sự khoan dung và cởi mở, cổ xuý cho cách nhìn liên văn hoá (<em>intercultural</em>) và xuyên văn hoá (<em>cross-cultural</em>) mà người Việt mình cứ lại nhấp nhổm với chuyện Nam/Trung/Bắc thì không những vô duyên mà còn nguy hiểm, không những lạc hậu mà còn phản tiến hoá.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thứ hai,</strong> không nên quên, liên quan đến con người, bất cứ sự khái quát hoá vội vã nào cũng đều bất cập và rất dễ sai lầm: ở Miền Nam, không hiếm người thô bạo, thậm chí, thô bỉ, ngược lại, ở Miền Bắc, không hiếm người cực kỳ nhã nhặn và lịch sự, rất “hiện đại” và ở tầm văn hoá cao.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thứ ba,</strong> cũng không nên quên, trước đây, ít nhất là trước năm 1954, ở Miền Bắc, đặc biệt, ở Hà Nội, người dân nổi tiếng là thanh lịch. Sau này, gặp lại một số người Hà Nội thuộc thế hệ cũ, tôi vẫn bắt gặp cái dáng vẻ thanh lịch truyền thống ấy. Ngôn ngữ họ thanh lịch. Tác phong họ thanh lịch. Cách hành xử của họ cũng thanh lịch. Nét thanh lịch ấy không còn thấy ở các thế hệ trẻ hơn.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><img style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-81-DEC-15-MANDA-PICTURE-100-jpg.jpg" alt="" width="100" height="100" /></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cho nên, những khác biệt giữa hai miền, Nam và Bắc, không nằm ở con người<strong>.</strong> Cũng không nằm ở truyền thống, nơi ưu thế rõ ràng là nghiêng hẳn về phía Miền Bắc. <strong>Sự khác biệt chủ yếu nằm ở chế độ</strong>. Liên quan đến chế độ, ở khía cạnh chúng ta đang bàn, yếu tố quan trọng nhất là văn hoá, trong đó nổi bật nhất là văn hóa chính trị, tức những cách diễn dịch cũng như những quy phạm và quy ước mà mọi người cùng chia sẻ về quyền lực và trách nhiệm. Những quy ước và những quy phạm ấy không phải tự nhiên mà có. Chúng là những gì người ta thụ đắc trong môi trường giáo dục, từ gia đình đến học đường và xã hội. Trong việc thụ đắc ấy, vai trò của chế độ đóng vai chủ đạo: Chính chế độ, cụ thể là nhà nước, quyết định về chương trình giáo dục cũng như nội dung của truyền thông đại chúng, qua đó, hình thành những mẫu người mà họ cần và muốn. Trong suốt hơn nửa thế kỷ, lúc nào nhà cầm quyền cũng tuyên dương  hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa. Nhưng nhìn lại, chúng ta chỉ thấy có một điểm trong mẫu hình con người mới ấy thành hiện thực và được phổ biến: tính thiếu thật thà.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nghiên cứu về văn học cũng như văn hóa Miền Nam trong tương quan so sánh với Miền Bắc hay cả nước hiện nay không phải nhằm phục hồi chế độ Miền Nam vốn đã thuộc về quá khứ xa lắc và cũng không nhằm gây chia rẽ vùng miền. Mà, theo tôi, chỉ nhằm hai mục đích chính: thứ nhất, công bằng với lịch sử; và thứ hai, để nhận diện đầy đủ hơn những thất bại trong chính sách văn học và văn hóa hiện nay, từ đó, tìm cách khắc phục.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Cứ quay lưng lại với thực tế và cứ ra rả với những khẩu hiệu láo khoét rỗng tuếch về những thành tựu đầy ảo tưởng, chúng ta chỉ kéo dài sự thất bại mà thôi.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Chả hay ho gì.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong>Nguyễn Hưng Quốc<br />
</strong></span>Thứ Năm, 16 tháng 9 2010</span><br />
<span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><a href="http://www.voanews.com/vietnamese/news/mien-nam-mien-bac-09-16-2010-103077399.html">http://www.voanews.com/vietnamese/news/mien-nam-mien-bac-09-16-2010-103077399.html</a></span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></p>
<p><strong></strong><img class="aligncenter" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-81-DEC-15-MANDA-PICTURE-100-jpg.jpg" alt="" width="224" height="225" /><span style="font-family: verdana, geneva; color: #008080;"><strong></strong></span></p>
<p><span style="font-family: verdana, geneva; color: #008080;"><strong><span style="font-size: x-large;">Văn học miền Nam 1954-75 theo cách nhìn của Vương Trí Nhàn hôm nay*</span></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Phỏng vấn của Thụy Khuê<br />
</strong>Chương trình Văn học nghệ thuật RFI, ngày 14 và 21/6/2008</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê:</strong> <em>Thưa anh Vương Trí Nhàn, xin cảm ơn anh lại một lần nữa vui lòng đóng góp tiếng nói trên đài RFI. Trước hết xin hỏi anh là hiện nay có dấu hiệu nào cho chúng ta thấy là văn học miền Nam đã bắt đầu hiện diện lại trên địa bàn văn học ở trong nước hay chưa?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn:</strong> Lâu nay, Văn học miền Nam như cứ tồn tại một cách lấp lửng ở Hà Nội, đôi lúc nổi lên, gây ồn ào, rồi lại thôi, để ít lâu sau lại xuất hiện dù không thành vấn đề lớn, song vẫn là vấn đề liên tục. Năm ngoái, vì có chuyện một số sách của Dương Nghiễm Mậu được in lại, sau đó lại bị phê phán, thành ra có người nghĩ rằng thế là thôi, từ nay nó bị đẩy lùi hẳn. Tôi thấy không phải, mà thực chất ngay từ mùa thu năm ngoái, năm 2007, báo Văn Nghệ đã mở ra mục giới thiệu một số tác phẩm của văn học miền Nam trước 75 và đã in một số truyện ngắn. Và đúng kỳ 30 tháng tư năm 2008, báo Văn Nghệ có ra số đặc biệt, lần đầu tiên đưa vào sưu tập mười truyện ngắn in ở Sàigòn, đấy là một điều đáng chú ý. Theo tôi, trong xã hội đang có nhu cầu muốn nhìn lại, tiếp cận lại bộ phận văn học này, tôi thấy đây là điều cần thiết và cũng muốn góp sức vào đó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê:</strong> <em>Trước khi đi xa hơn nữa, xin hỏi anh về tình hình trước năm 1975, ở Hà Nội thời ấy đã có ai đọc một vài tác phẩm của Văn học miền Nam hay không, và nếu có, chuyện đó đã xẩy ra như thế nào?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn:</strong> Văn học miền Nam hồi đó về Hà Nội ít ỏi lắm, gần như của cấm, muốn đọc phải mò mẫm đi tìm; tìm thấy rồi, đọc thấy hay rồi, muốn kêu lên với mọi người cũng phải tự nén lại. Song, một cách tự nhiên, một số chúng tôi biết rằng có nó, đinh ninh tin rằng một người muốn làm văn học một cách đứng đắn phải tìm tới nó &#8212; các nhà văn từ Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu&#8230; hay lớp trẻ bọn tôi như Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Trúc Thông hay một số bạn khác đã nghĩ như vậy. Một cách lặng lẽ, chúng tôi đã liên tục tìm kiếm sách báo, không bỏ qua một trường hợp nào mà không tìm kiếm. Có thể là chẳng ai hiểu văn học miền Nam cho đến đầu đến đũa, có thể sự hiểu chỉ loanh quanh ở những mảnh vụn, nhưng làm sao khác được, vừa đọc vừa đoán thêm tưởng tượng thêm. Và đã có một sự chia sẻ thậm chí như là giữa hai bên hình như vẫn có một cuộc đối thoại ngầm nữa. Vả chăng cái sự xa lạ là mãi về sau này mớí xuất hiện chứ ban đầu chính thức đâu có phải vậy. Có lần tôi đã tìm thấy một văn bản năm 56, ông Nguyễn Tuân, thay mặt cho giới văn nghệ Hà Nội, gửi điện cho những người viết văn ở miền Nam, nói rằng chúng ta sẽ cùng lập một đoàn đại biểu để đi dự hội nghị nhà văn ở Tân Đề Ly, bên Ấn Độ và chúng ta sẽ chờ cơ hội sáng tác để góp phần vào nền văn hóa dân tộc. Đây là chuyện ít người nhớ, cả người ở Hà Nội cũng không nhớ. Tôi cho rằng chúng ta nên tìm cách nhắc lại với nhau kẻo hiểu lầm mãi, hiểu lầm và tự mình bó buộc mình một cách phi lý.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Về sau này, từ những năm cuối chiến tranh và nhất là ngay sau 1975, nhìn trên bề mặt dễ có cảm tưởng là cả giới viết văn Hà Nội đều nem nép đi theo quan niệm chính thống chỉ đạo. Tức coi văn chương miền Nam là bỏ đi, những người viết văn ở Sàigòn trước kia toàn kẻ thù cả. Thực tế không phải thế. Nói người ta cứ nói, mà đọc người ta cứ đọc. Gần đây có nguội đi &#8212; có nhiều lý do để nguội đi: bận bịu nhiều chuyện kiếm sống khác. Nhưng nguội đi không có nghĩa là thôi hẳn. Mà trong chừng mực nào đó là đi vào bề sâu.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Càng ngày tôi càng nghe được nhiều ý kiến nói rằng đánh giá thế nào thì đánh giá, có thể phê phán, có thể nhận xét thế này thế kia, nhưng phải công nhận rằng văn học miền Nam là một bộ phận của văn học Việt Nam thế kỷ XX, ở đó có rất nhiều vấn đề, nhiều đóng góp và phải có nó nữa thì văn học Việt Nam mới là chính mình. Vậy phải nghiên cứu tìm hiểu hệ thống hóa lại, phải in lại. Thời gian tới, tuy rằng đi vào cụ thể cũng có rất nhiều khó khăn song việc này phải được triển khai một cách bài bản thì mới hiệu quả được.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê</strong>: <em>Thưa anh, qua những dịp nói chuyện với anh, tôi biết là anh đã đọc khá nhiều văn học miền Nam từ lâu rồi. Nhưng hình như trước đây anh ngại phát biểu về vấn đề này. Ngày nay, anh sẵn sàng trở lại vấn đề này một cách công khai. Vì sao như vậy, chắc ở đây phải có một lý do sâu xa?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn<em>:</em></strong> Đúng là thời gian gần đây, tôi cảm thấy không thể im lặng mãi mà cần nói nên nói. Sở dĩ vậy lý do rất đơn giản, cái chính là đời sống trong nước gần đây có nhiều khó khăn, không phải chỉ là vấn đề kinh tế mà còn nhiều mặt khác trong đời sống tinh thần. Với tư cách là một trí thức, một người viết văn, điều làm tôi đau lòng nhất là nhìn thấy con người hiện nay, có cái gì đó như là suy thoái, tha hóa, tầm thường đi, trở nên hung hãn càn rỡ hơn, chỉ biết chiều theo những bản năng thấp, ham hưởng thụ và mệt mỏi, chán ngán, làm bậy. Tôi thấy chúng tôi những người viết văn có lỗi trong chuyện này và trước mắt phải nhận lấy trách nhiệm suy nghĩ và lý giải vấn đề này. Trong quá trình tự lý giải cho mình, tôi đi tới ý tưởng là con người hôm nay là hệ quả của chiến tranh. Nghĩ gì thì nghĩ, xã hội Việt Nam hôm nay là xã hội hậu chiến. Có người bảo 30 năm đã qua, mọi sự thay đổi rồi; nhưng theo tôi, thực sự xã hội Việt Nam vẫn còn đang phát triển theo quy luật của chiến tranh và nếu chúng ta không trở lại tìm hiểu cuộc chiến tranh, không nói rõ ra những đặc điểm của con người hậu chiến, thì không thể hiểu được đời sống trước mắt không thể gọi ra căn bệnh của con người hiện nay và cũng không thể góp phần chạy chữa và giúp con người sống tốt hơn được. Trong khi suy nghĩ về các vấn đề trước mắt, tôi tìm thấy nhiều gợi ý, đồng cảm ở Văn học miền Nam, cái phần mà tôi đã biết, đã đọc từ trước. Nó giúp tôi hiểu cả hai miền trong chiến tranh. Nó lại là cái sơ sở để cắt nghĩa tình hình hôm nay.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong tài liệu nghiên cứu, các sách văn học sử dạy ở nhà trường, chỉ thấy có Văn học miền Bắc là tồn tại thôi, còn Văn học miền Nam thì bị lờ đi coi như không có. Cùng lắm viết mấy câu qua loa vẻ chiếu cố và nặng về phê phán. Nhưng sự thực là trong thời gian 45-75, rõ ràng chúng ta có hai nền văn học cùng tồn tại, hai nền văn học đó bổ sung cho nhau, mỗi bên có giá trị riêng và mỗi giá trị đó không thể bỏ được.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê:</strong> <em>Anh nghĩ như thế nhưng vẫn còn nhiều người nghĩ ngược lại anh, tại sao vậy? Và anh có lập luận nào để bảo vệ ý kiến anh?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn</strong>: Sở dĩ đôi lúc người ta khó công nhận Văn học miền Nam là hình như họ nghĩ như thế này: tức là nếu công nhận Văn học miền Nam thì [Văn học] miền Bắc coi như là thua, là kém, là không ra gì cả, thậm chí là hỏng, là vứt đi. Cách nghĩ &#8220;chỉ có một [nền văn học] thôi&#8221; là không phải, vì như vậy sẽ gây ra nhiều rắc rối trong việc tiếp cận nhau. Phải nói chúng ta có cả hai [nền văn học], và hai bên bổ sung cho nhau.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Tôi nghĩ độ một trăm năm sau, nếu muốn nhìn lại xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XX, muốn hiểu con người sống như thế nào thì cần phải đọc cả hai. Nền văn học miền Bắc, tôi tạm gọi là văn học của chiến công, nền văn học lôi cuốn người ta đi vào cuộc chiến tranh. Còn nếu giờ đây có ai muốn đi tìm những trang sách diễn tả tình cảnh con người trong chiến tranh thì tôi khuyên họ hãy tìm đến phần văn học miền Nam. Đọc từ Võ Phiến, Mai Thảo, Y Uyên, Nhật Tiến, Thế Uyên… qua những tác phẩm của Nhã Ca, của Phan Nhật Nam, hay những bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn, chỗ nào tôi cũng thấy chiến tranh, xa gần đều có dây dưa tới chiến tranh.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Nếu trong truyền thống, chúng ta có mảng văn học chức năng, động viên thôi thúc con người hành động, ví dụ như Bình Ngô Đại Cáo hay thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, thì Văn học miền Bắc nối truyền thống đó rất rõ. Ngược lại, nếu đi tìm cái mạch nối tiếp truyền thống của Nguyễn Du, của Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, của Hồ Xuân Hương, Tú Xương,&#8211; tức là tìm tới thứ văn học thiên về những đau khổ của con người, cả tình thế bi thương, đau đớn, cả sự bơ vơ, bất lực, trong đời sống này không biết tìm ra lối nào để đi đích nào để hướng tới &#8212; thì tôi thấy ở Văn học miền Nam rõ hơn đầy đủ hơn.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê</strong>: <em>Nếu đặt Văn học miền Nam vào mạch chung của thế kỷ XX, anh thấy nền văn học này đã giữ địa vị nào và đã làm được gì cho nền văn học dân tộc của chúng ta nói chung?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn</strong>: Thế kỷ XX là một bước chuyển của Văn học Việt Nam. Trước đó chúng ta có nền văn học theo mô hình Trung Hoa, ở đó có hai bộ phận chính, một gần với dân gian, một nữa là văn học chức năng, văn dĩ tải đạo. Sang thế kỷ XX, văn học chúng ta hiện đại hóa tức là vận động theo mô hình văn hóa phương Tây, đến năm 1945 đã tương đối hoàn chỉnh. Sau năm 45, có hai mảng văn học như tôi nói ở trên tức là Văn học miền Bắc và Văn học miền Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Văn học miền Bắc đi theo luật riêng, một mặt, nó tiếp theo văn học tiền chiến, và một mặt – mà là mặt chủ yếu &#8212; thì muốn làm công việc khai phá mới, đi lại từ đầu, tức là đi từ văn học dân gian lên và phủ nhận những kinh nghiệm của thời tiền chiến. Đặt trong cái mạch chung thì đến đây, bên cạnh phần nối tiếp, có sự đứt gẫy. Xét về mối quan hệ với văn học nước ngoài, Văn học miền Bắc trước 75 đứng tách ra, gần như cô lập, chỉ nối tiếp một phần với Trung Hoa và Nga, vả chăng, ngay cả Nga và Trung Hoa lúc đó cũng đứng cô lập với thế giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngược lại, Văn học miền Nam, rõ nhất là thời kỳ 54-75, một cách tự phát vẫn đặt mình trong cái mạch chung. Chúng ta bắt gặp ở đây những bước đi thường thấy ở các nền văn học Đông Nam Á là sử dụng các quan niệm các phương thức của văn hóa phương Tây để diễn tả đời sống con người hiện đại. Vì vậy, có thể nói Văn học miền Nam là sự tiếp nối bình thường của văn học tiền chiến, &#8212; tức là thuận theo cái dòng trôi chảy bình thường của lịch sử. Chỉ có điều trong xã hội hậu thực dân, lúc này người Việt Nam sau thời kỳ tiếp nhận phương Tây muốn tự làm nên nền văn học của mình, thì lại chìm ngập trong chiến tranh, hỏi làm sao tránh khỏi nham nhở dở dang và sớm buông xuôi mệt mỏi.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê:</strong><em> Nếu cần tìm về bản chất Văn học miền Nam, theo anh, những giá trị nào là cơ bản của nền văn học này?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn</strong>: Ở đây có hai giá trị cơ bản của văn học, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo. Tôi hiểu giá trị hiện thực với nghĩa đọc Văn học miền Nam trước 75, tôi hiểu con người Việt Nam trong chiến tranh. Ở thành thị, quân đội nước ngoài tập trung đến, đời sống hứng chịu bao nhiêu đảo lộn; còn nông thôn thì nay thuộc phe này, mai phe kia, con người bị bom đạn xua đẩy đi khắp mọi nơi&#8230; Đấy là những nét chủ yếu làm nên bức tranh hiện thực. Có lần tôi đọc một cuốn sách không thuộc loại nổi tiếng lắm của Túy Hồng, cuốn <em>Bướm khuya</em>, hay là cuốn <em>Đoàn lữ binh mùa thu</em> của Nhã Ca chẳng hạn, thì thấy những cuốn như thế &#8211; qua cách cảm thụ và diễn tả của các nhà văn nữ &#8212; vẫn có cái chỗ khả thủ của nó. Nó cho thấy một thứ hiện thực mà trước đây chưa từng có. Bức tranh hiện thực diễn tả ở đây không phải là cái hiện thực mà chúng tôi, dân nghiên cứu ở Hà Nội quen nghĩ, tức là ở đó phải có giai cấp nọ, giai cấp kia, phải có địa chủ, tư bản, nông dân đấu tranh với nhau. Cái quan niệm hiện thực đó nó cổ rồi, nó khô cứng lắm rồi &#8211; theo sự hướng dẫn của nó mà đọc văn học miền Nam thì sẽ thất vọng. Hiện thực tôi nói ở đây là không khí đời sống nói chung, một thực tế ngột ngạt, đau đớn, có lúc như ma quái, người ta không thể nắm được, nó nằm ngoài tầm tay người ta, buộc người ta phải chấp nhận.Trong môi trường ấy, người ta cảm thấy mình bị như nung nóng lên, hành động ngôn ngữ không còn bình thường mà trở nên sai lệch tương lai thì vô vọng. Cái không khí đời sống như thế, tôi thấy rất nhiều trong các tác phẩm của các nhà văn miền Nam. Và như vậy là thực trạng xã hội đã được bộc lộ, được ghi nhận.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Hẳn có một số bạn sẽ thắc mắc tại sao tôi lại nói có thể tìm trong văn học miền Nam tinh thần nhân đạo. Bởi họ &#8212; trong đó có tôi trước đây&#8211; quan niệm một nền văn học nhân đạo nhất thiết phải làm nổi phần tốt đẹp trong con người rồi thương yêu con người, ca ngợi con người. Lúc này đây tôi nghĩ điều đó đúng nhưng không đủ, và không phù hợp với tinh thần hiện đại. Trong chủ nghĩa nhân đạo thời nay, người ta để ngỏ mọi khả năng mọi cách nghĩ về con người. Chủ yếu người ta bảo nhau không theo một định kiến có sẵn nào cả khi hướng tới tìm hiểu con người. Mà trước tiên là thông cảm, thấy tất cả những sự phức tạp, cái ghê gớm, cái đa đoan rắc rối của con người, nói chung là chia sẻ với con người trong trạng thái nhân thế nhiều khi kỳ cục của nó và gợi ý để mọi người cùng suy nghĩ tiếp về kiếp nhân sinh. Một quan niệm như thế giúp ta tìm thấy ở Văn học miền Nam những khía cạnh thú vị.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê</strong>: <em>Xin anh kể ra một vài tác giả hay tác phẩm nào trong nền Văn học miền Nam được anh lấy làm căn cứ vào để đi tới những điều anh vừa nói.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn</strong>: Tôi nhớ ngay tới những cuốn sách của nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Ta biết rằng trong thời kỳ đầu, Dương Nghiễm Mậu có nhiều suy nghĩ rất trừu tượng. Trong Cũng đành, tác giả nói về vấn đề tồn tại như thế nào, mình có quyền hành động gì, sự lựa chọn đúng hay sai, mình đang như thế nào, bản mệnh đã bị dày vò thế nào, đấy là phần đến rất sớm ở Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền và một số người khác. Về sau, khoảng sau 72, tôi được biết là Dương Nghiễm Mậu cũng có những tiểu thuyết như <em>Con sâu</em>, cũng đã diễn tả nhiều mặt tâm trạng và đời sống con người trước 75. Rất tiếc là tôi chưa được đọc cuốn này. Nhưng tôi có ấn tượng đặc biệt về Dương Nghiễm Mậu qua những bút ký ngắn in trên bán nguyệt san <em>Văn</em> khoảng 1972-74 tả những chuyến đi theo các đơn vị quân đội đến Tây Nguyên, ra Quảng Trị&#8230; Cùng với nhân vật có tên là Trực &#8212; hình như chỉ là tác giả hóa thân để tự bộc lộ &#8212; chúng ta chứng kiến đất nước mình tan nát, lớp trẻ bị chết, bị thương, đời sống mất hết sự thiêng liêng con người giãy giụa không tìm thấy lối thoát. Nhiều suy nghĩ có từ thời viết <em>Cũng đành</em> hiện ra với cái vẻ cụ thể của nó.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Thời gian mấy năm 72 -73, một số anh em bọn tôi ở tạp chí <em>Văn nghệ quân đội </em>có lúc xôn xao hẳn lên khi đọc một cuốn của Phan Nhật Nam, không phải cuốn nhiều người hay nói tới mang tên <em>Mùa hè đỏ lửa</em>, diễn tả không khí chiến trường rất ác liệt, mà là cuốn trước đó, cuốn <em>Dấu binh lửa</em>. Theo tôi, <em>Dấu binh lửa</em> gây ấn tượng mạnh, vì nó cho thấy sự tan vỡ tâm hồn, tan vỡ đời sống tinh thần của một lớp người thanh niên khi vào đời là vào với chiến tranh. Từ chỗ là một người đầy nhiệt huyết, muốn biết, muốn hiểu, muốn đóng góp, muốn làm cái gì cho xứ sở, nhân vật xưng tôi ở đây biến thành người không còn là mình nữa, chai lỳ, bất nhẫn, chỉ muốn đập phá. Phan Nhật Nam trong <em>Dấu binh lửa</em> là thế. Tôi nhớ là những nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, khi đọc cuốn này đều thấy nể, ngay cách diễn tả, cách viết rất trực tiếp và khả năng sử dụng tiếng Việt trong <em>Dấu binh lửa</em> cũng đáng ghi nhận. Khoảng 1990 -91 xuất hiện <em>Nỗi buồn chiến tranh</em> của Bảo Ninh, đọc <em>Nỗi buồn chiến tranh</em> tôi lại nhớ đến <em>Dấu binh lửa</em>. Nhà tôi lúc đó gần nhà Bảo Ninh, tôi có đưa cho anh xem. Khi trả Bảo Ninh có nói với tôi &#8212; không biết bây giờ anh có nhớ không, nhưng tôi vẫn nhớ. Rằng nếu tôi đọc cuốn này trước thì có lẽ tôi sẽ viết khác đi. Có cảm tưởng rằng đây là một trong những cuốn sách viết về chiến tranh mà bọn tôi không thể quên nổi và ở chỗ đó, nó cho thấy sự cần thiết tức cũng là những đóng góp của Văn học miền Nam, với vai trò ghi nhận được trạng thái nhân thế của con người một thời, tất cả những đau đớn, vật vã của con người trong một hoàn cảnh phi nhân văn và chính từ đó chúng ta có thể giải thích tất cả những biến động trong đời sống từ sau 75 đến nay.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê:</strong><em> Phải chăng sự trở về với Văn học miền Nam của anh còn có một lý do khác, đó là từ khi về hưu anh có nhiều thì giờ đọc hơn và anh cũng đã khám phá ra nhiều cái mới.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn</strong>: Cái đó cũng có. Giờ đây tôi có điều kiện đọc những cái mà trước kia bỏ qua, chẳng hạn một trong những say mê của tôi là đọc sử của mình những thời kỳ cũ. Thật ra ở Hà Nội người ta viết sử rất kém, từ lúc tôi đi học đã&#8230; không có sử. Rồi chúng tôi đâm lười đọc cả sử cũ. Rất xấu hổ phải nói là một người viết văn, trí thức mà chưa bao giờ tiếp xúc một cách nghiêm túc với những bộ sử rất quan trọng của chúng ta như bộ <em>Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt Sử Thông Giám Cương Mụ</em>c hay những bộ sử sau này như <em>Đại Nam Thực Lục</em> của triều Nguyễn. Rồi cả sử Việt Nam đầu thế kỷ XX, thời người Pháp sang tổ chức lại xã hội của mình nữa. Tất cả những trang sử ấy, bọn tôi biết quá ít, sự thực là chúng tôi có những định kiến sai lầm, những thành kiến, rồi cứ nuôi những thành kiến đó mà cứ tưởng đó là chân lý. Tôi có được may mắn là tự tìm ra được niềm vui đọc lại những cái đó và dần dà, qua liên tưởng đối chiếu, tôi hiểu thêm đời sống hôm nay. Thế thì Văn học miền Nam cũng là một bộ phận, một di sản của dân tộc, nó như những bức ảnh, những cuốn phim, ghi lại đời sống một thời. Với những nhà văn tư cách trí thức, chúng ta rất cần lùi xa lại quá khứ và từ khoảng cách xa như thế, nhìn chung cả lịch sử sự phát triển tinh thần của dân tộc.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê</strong>: <em>Tôi biết là anh đang có một dự định nghiên cứu dài hơi, anh có thể cho biết sơ qua về công việc mà anh đang bắt đầu làm không?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn</strong>: Tôi đang muốn làm cái việc tạm gọi là tổng kết lại đời mình, theo nghĩa là dù mình có mấy chục năm làm việc nhưng nó cũng như là một bản nháp lộn xộn, bây giờ tìm xem cái gì là chính, là phụ cái gì dở, cái gì may ra còn với thời gian. Thêm nữa tôi vừa nhận viết cuốn sách về văn học Việt Nam thế kỷ XX. Trên con đường ấy, tôi nghĩ là mình phải nghĩ lại nhiều điều, từ Văn học tiền chiến, bắt sang hai mảng Văn học miền Bắc (Văn học cách mạng) và Văn học miền Nam đang nói.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Trong quá trình đọc và nghĩ lại, tôi biết rằng vốn liếng của mình vừa mỏng mảnh vừa sai lạc. Một người như tôi cả đời sống với nghề này mà trong hành nghề còn những thiếu sót rất cơ bản, thí dụ thiếu khả năng để có thể tiếp xúc được với những thành tựu nghiên cứu khoa học xã hội cả của Tàu lẫn của Tây, cả hôm qua lẫn hôm nay. Và thiếu sót lớn nhất là quan niệm về văn chương và xã hội nhiều phần cổ lỗ. Tôi mong muốn cả những người viết văn nghiên cứu ở Hà Nội, ở Sàigòn cũ và bây giờ một số ở nước ngoài, mong rằng chúng ta cùng dành hẳn ra một thời gian nào đấy để nghĩ lại và vượt qua thành kiến cũ của mình, từ đó khi bắt tay vào việc tạo được sự mới mẻ trong khi tiếp cận với đời sống văn hóa, văn học của dân tộc trong thế kỷ XX. Nói gọn lại chúng ta phải thay đổi.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê</strong>: <em>Với anh, cái mà chúng ta phải thay đổi ở đây cụ thể là gì? Và tại sao chúng ta lại phải thay đổi? Bài học quá khứ đã cho ta những kinh nghiệm như thế nào?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn:</strong> Đối tượng vẫn thế thôi, nhưng sự tiếp cận của chúng ta hôm qua đã thất bại thì hôm nay phải đổi cách nhìn, phải có những công cụ mới, cái nhìn mới. Tôi lấy ví dụ trong thực tế đời sống nghiên cứu văn học, văn hóa ở Hà Nội cũng đã có tình trạng như thế này: trong một thời gian dài Văn học tiền chiến coi như rất lắm tội lỗi và nhiều hư hỏng. Vũ Trọng Phụng dâm uế không được in lại, Nguyễn Công Hoan cũng có những sai lầm, Ngô Tất Tố cũng hạn chế, Tự Lực Văn đoàn coi như vứt đi hết, chỉ có Thạch Lam được yêu mến một chút thôi, chứ còn tất cả đến bây giờ vẫn coi lãng mạn là xa rời đời sống, xa rời nhiệm vụ dân tộc. Trước 75 chỉ có một cách hiểu như thế ngự trị. Đến bây giờ mọi chuyện đã khác đi, bây giờ lại bắt đầu nhìn Văn học tiền chiến như một niềm tự hào của văn hóa, văn học dân tộc, đi vào nghiên cứu cụ thể thì không được bao nhiêu nhưng dẫu sao đã thoát khỏi cách nhìn dung tục trước đây.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Và tôi muốn rằng sự thay đổi ấy cũng sẽ đến trong cái nhìn Văn học miền Nam trước 75. Tôi thấy, ví dụ như người Nga, họ cũng tự hào về văn học hải ngoại của họ, người Trung Hoa cũng tìm thấy ở Văn học Đài Loan, Văn học Hồng Kông những giá trị. Ở Đài Loan có những nhà văn như Bạch Tiến Dũng, các sách văn học sử của Bắc Kinh coi ông như là một tác giả quan trọng của nền Văn học Trung Hoa thế kỷ XX.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Khi không muốn thay đổi, người ta hay bảo đối tượng nghiên cứu của mình có những hạn chế. Ngẫm ra, ai mà chẳng có hạn chế, ví dụ bây giờ đọc bất cứ cuốn sách nào ở Hà Nội, đều thấy nói rằng Nguyễn Du có nhiều tư tưởng hạn chế, nhưng không phải vì hạn chế ấy mà tất cả chúng ta bỏ, không say mê Kiều và cảm thấy Kiều là phần thân thiết, gần gũi và là một tiếng nói tâm hồn của chúng ta. Trong việc trở lại Văn học miền Nam, cũng nên có thái độ tương tự. Ở đây cũng cần phải có sự giải phóng tư tưởng, và trước tiên phải có những chuẩn mực đúng đắn. Khi xét một nền văn học, cái chính là thấy nó như một bộ phận của đời sống tinh thần dân tộc, chỉ có tính chất nhân văn nhân đạo là đáng được xem như hệ quy chiếu duy nhất.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê:</strong> <em>Nếu so sánh sinh hoạt văn học hiện nay ở trong nước với sinh hoạt văn học miền Nam trước 75, anh có thấy điểm tương đồng nào giữa hai nền văn học này?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn:</strong> Nghe thấy lạ song có cảm tưởng là văn học ở trong nước hiện nay đang có nhiều điểm giống như Văn học miền Nam trước 75, kể cả sự phát triển văn hóa đại chúng, kể cả sự học đòi nhiều lúc hơi xô bồ, tuỳ tiện đối với phương Tây, cái mệt mỏi của con người, nỗi băn khoăn của người trí thức để có một nền văn học khác đi, trí tuệ hơn mà cũng là hiện đại hơn. Nhiều lúc ở Hà Nội này, tôi đọc và cảm thấy có những hiện tượng quanh mình tôi đã gặp một lần đâu đó, sau nhớ lại hóa ra tôi đã đọc ở Sàigòn trước năm 75, thời ấy bên cạnh <em>Bách Khoa</em>, bên cạnh <em>Văn</em>, đã có đủ thứ nhốn nháo, nhố nhăng, tùy tiện rất buồn cười khiến nhiều người phải kêu trời. Về hội nhập mà nói, so với văn học trong cả nước hôm nay, văn học miền Nam cũng đã đi trước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Ngoài sự trì trệ, ấn tượng chính của tôi về đời sống văn học trước mắt là các nhà văn trẻ đang muốn thay đổi, họ cũng không muốn viết, không muốn sáng tác như những người đi trước như bọn tôi nữa. Thế nhưng sự chuẩn bị không có. Thiếu sự chuẩn bị như thế, dĩ nhiên lỗi không chỉ ở lớp trẻ mà là ở lớp người đi trước, chúng tôi đã không góp phần chuẩn bị cho họ. Thành ra, ngay ở phương diện này, các nhà văn trẻ cũng có thể tìm thấy trong các tác phẩm của các nhà văn miền Nam, những ví dụ, những bài học. Để học theo có, mà để rút kinh nghiệm cũng có, theo hay tránh thì đều là những bài học hữu ích cho công việc của họ.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê</strong>: <em>Chắc anh cũng đồng ý với tôi là mặc dù giới trẻ trong nước hiện nay không có cơ hội trực tiếp tiếp xúc với Văn học miền Nam, nhưng nếu chúng ta nhìn kỹ, tìm tòi kỹ thì chúng ta vẫn thấy có một vài ảnh hưởng nào đó của Văn học miền Nam trên một số tác giả trẻ hiện nay. Vậy anh có thể lý giải cụ thể thế nào về hiện tượng này?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn:</strong> Mặc dù có bị đẩy vào bóng tối, những phần tốt đẹp trong Văn học miền Nam vẫn như mạch nước ngầm len lỏi xuyên thấm vào đời sống văn hóa trong nước. Ví dụ như thơ, các hội thơ gần đây đã thường đưa Thanh Tâm Tuyền lên thành một tìm tòi của thơ thế kỷ XX ở Việt Nam và trong dư luận miệng tức là trong các cuộc trao đổi, mọi người trông vào các tìm tòi của các nhà thơ ở miền Nam trước 75 như những bước khai phá tiếp tục Thơ Mới, để tìm tới một giai đoạn mới của thơ và để thơ Việt Nam hội nhập thế giới.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Đi với thế giới đang là chuyện sinh tử của nền thơ trong nước nhất là thơ trẻ. Tôi cho là việc này đã được các nhà thơ ở miền Nam trước 75, giải quyết một cách tự nhiên, một cách liên tục, một cách đại trà rộng rãi, nó như một lối đi đã mở, ai có sức thì đi tiếp. Mà đâu chỉ riêng có thơ. Nhiều vấn đề lớn như thế nào là tiểu thuyết, văn xuôi đi về đâu, chấp nhận phương Tây thế nào thể hiện quan hệ cá nhân, xã hội ra sao &#8211; trước các vấn đề ấy các nhà văn miền Nam trước 75 đều đã thể nghiệm, các nhà văn trẻ bây giờ nếu đọc hẳn sẽ có nhiều gợi ý.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê</strong>: <em>Theo anh, nếu đưa được trở lại với đời sống, đâu là những điểm những khía cạnh mà nền Văn học miền Nam có thể giúp ích ngay cho sinh hoạt văn học trong nước?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn</strong>: Nhìn chung, tất cả những phần đóng góp của Văn học miền Nam đối với nền văn học dân tộc, đều là những bài học quý báu cho việc xây dựng nền văn nghệ của chúng ta. Tôi chỉ nói ở đây một điểm là việc xây dựng ngôn ngữ văn học. Hiện nay trong đời sống Hà Nội, ngôn ngữ giao tiếp thông thường&#8230; rất kinh khủng. Hôm nọ có người viết bài về việc cần giữ chủ quyền trong ngôn ngữ, ý nói đang có cuộc xâm lăng ngôn ngữ, từ tiếng Anh, đến tiếng Hán xâm nhập vào tiếng Việt một cách lộn ẩu, và ngay cả ngôn ngữ trong tay những người người cầm bút hiện nay nhiều khi cũng hết sức lộn xộn, nhếch nhác, lâu lắm không có người viết văn hay. Trong lúc đó, tôi đọc lại Văn học miền Nam, với những ngòi bút bậc thầy, thấy ở phần hay nhất của mình, Mai Thảo Võ Phiến, mỗi người có giọng văn riêng, mỗi người một vẻ song đều đậm chất văn học, đều có cái dáng vẻ hiện đại và hé lộ cho thấy một đời sống tinh thần không thể có ở thời tiền chiến được. Rồi nhiều nhà văn khác, như Thụy Vũ, Nhã Ca, Trùng Dương, Túy Hồng, Y Uyên, Dương Nghiễm Mậu, Phan Nhật Nam, v.v&#8230; sau này là Ngụy Ngữ, Trần Thị Ng. H. văn xuôi của họ, đều là những thể nghiệm ngôn ngữ thu góp được cả cái mạnh của tiếng nói Hà Nội, cả cái mạnh của miền Trung và Sàigòn lục tỉnh. Từ trước 1975, nhiều người đã nói tới một số nhà văn di cư, họ cùng đóng góp đưa cho ngôn ngữ văn học của Văn học miền Nam lên trình độ một mực thước một cái chuẩn. Với tư cách một người từ Hà Nội nhìn vào, tôi cũng thấy hai mạch ngôn ngữ đó trong những nhà văn xuất sắc được kết hợp nhuần nhụy, đến bây giờ bọn tôi vẫn có thể trông vào đó để học hỏi. Hoặc trong việc dịch những tác phẩm văn học nước ngoài sang tiếng Việt, cách xử lý tiếng Việt của các dịch giả, tôi thấy đó là điều bọn tôi phải nể và phải tiếp nhận họ và trước tiên phải công nhận những đóng góp của họ.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụ</strong>y Khuê: <em>Xin hỏi anh về di sản văn học. Theo anh thì Văn học miền Nam có vai trò gì trong việc bảo tồn Văn học tiền chiến và trên mặt nghiên cứu văn học, theo anh, miền Nam có để lại thành quả nào mà anh thấy vẫn còn hữu ích cho giới làm văn học hiện nay không?</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn</strong>: Nhìn vào di sản Văn học tiền chiến, thì trong một thời gian dài, ở Hà Nội mất đi rất nhiều, nhiều tài liệu bị cất vào thư viện, sau đó không ai đọc, cuối cùng không biết ở đâu. Thì chính là ở Sàigòn, nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn đã bắt đầu có sự nối tiếp, chuẩn bị, sưu tầm tài liệu, đã góp phần làm giàu có thêm di sản chung của chúng ta. Gần đây, <em>Từ điển văn học </em>của nhóm Nguyễn Huệ Chi đã đưa vào một cuốn sách văn học sử mà riêng bản thân tôi rất thích thú và đã mua về để dùng, coi như là cuốn sách rất tốt về văn học sử Việt Nam,&#8211; đó là cuốn <em>Việt Nam văn học sử giản ước tân biên</em> của Phạm Thế Ngũ. Hồi ấy, ở Sàigòn có nhiều người rất nổi trên phương diện nghiên cứu văn học và biên khảo, ông Phạm Thế Ngũ chỉ là một nhà giáo và cuốn sách mà tôi nói chỉ là một cuốn giáo trình; nhưng thực sự gần đây đọc lại, tất cả mọi người đều công nhận đó là một cuốn sách viết rất nghiêm túc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Về việc nghiên cứu và giới thiệu nói chung. Năm ngoái, một cuốn sách về triết học của Trần Thái Đỉnh, cuốn <em>Triết học hiện sinh</em> cũng đã được in lại. Hôm qua tình cờ tôi đọc lại <em>Văn học miền Nam Tổng quan</em> của Võ Phiến, thì thấy ông Võ Phiến cho biết cuốn Triết học hiện sinh đó có thời gian là cuốn bán chạy nhất năm nó ra đời ở Sàigòn. Điều đó với tôi là một chi tiết thú vị, bởi vì hiện nay ở Hà Nội cũng thế thôi, cũng đang có một khao khát tiếp nhận những cái mới của phương Tây, tiếp cận những tinh hoa của họ thế kỷ XX, và trong việc này tôi thấy Văn học miền Nam đã đi trước cũng như để lại những thành quả mà bây giờ chúng tôi không dễ gì vượt qua.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê</strong>: <em>Thưa anh, câu chuyện đã khá dài, trước khi từ giã, anh thấy có những điều gì nói thêm về việc đưa Văn học miền Nam trở lại văn đàn, điều mà anh thật sự hết lòng mong muốn thúc đẩy.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Vương Trí Nhàn</strong>: Tôi bị ám ảnh bởi một điểm là chúng ta đến chậm quá, làm muộn quá. Hiện nay nếu muốn quay trở lại Văn học miền Nam, ngoài khó khăn tôi nói trên về tư tưởng, các quan niệm, thì khó khăn vật chất cũng rất cụ thể. Như không khí chểnh mảng không ai chuyên tâm. Lòng người thì vẫn tâm lý hậu chiến, tức là vẫn bị ảnh hưởng ngày hôm qua, không tách ra được để nhìn đối tượng văn hóa, bình tĩnh làm công việc một cách tốt hơn. Thứ nữa, tư liệu thì mất rất nhiều. Gần đây trên mạng talawas cũng đã trích đăng lại một số tác phẩm cũ của Văn học miền Nam, ở bên Mỹ, nhiều tác phẩm cũ được in lại, nhưng tôi vẫn cảm thấy chưa đủ. Thỉnh thoảng trao đổi với một vài nhà nghiên cứu khác cũng thấy thế. Chúng tôi có cảm tưởng mỗi người nắm một tí, tức là mỗi người chỉ nắm được phần của mình thôi, còn sự thực người có khả năng bao quát chung thì không có.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Câu chuyên về tài liệu đang là chuyện cấp thiết lắm. Có những tờ báo, tạp chí quan trọng mà thiếu nó không thể hình dung đời sống văn học một thời. Ở miền Nam, đó là<em>Bách Khoa, Văn</em> rồi là <em>Trình bày, Khởi hành, Vấn đề, Thời tập</em>&#8230; Nhưng những bộ sưu tập báo và tạp chí đó không biết ở trong và ngoài nước còn giữ được bao nhiêu, và làm thế nào đưa nó lên thành tài liệu tiện dụng cho tất cả mọi người. Việc này cần không chỉ cho các chuyên gia Văn học miền Nam mà cho mọi người nghiên cứu nói chung. Bản thân tôi, khi giải quyết vấn đề gì, tôi đều rất muốn có dịp trở lại Văn học miền Nam, đọc lại nó để đối chiếu và tham khảo.</span></p>
<p><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><strong>Thụy Khuê</strong>: <em>Xin thành thật cám ơn anh Vương Trí Nhàn.<br />
</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">*Bản lấy từ <a href="http://www.hopluu.net/default.aspx?LangID=0&amp;tabId=510&amp;ArticleID=734">Tạp Chí Hợp Lưu số 103 tháng 1&amp;2 năm 2009</a>. Tựa đề đặt lại theo đề nghị của Vương Trí Nhàn.</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/01/31/mi%e1%bb%81n-nam-va-mi%e1%bb%81n-b%e1%ba%afc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Câu Chuyện Một Người Tù Bất Khuất Ít Được Biết Đến: Cuộc Đời Và Những Năm Tù Đày Lao Lý của Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt</title>
		<link>http://www.vietthuc.org/2012/01/31/cau-chuy%e1%bb%87n-m%e1%bb%99t-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tu-b%e1%ba%a5t-khu%e1%ba%a5t-it-d%c6%b0%e1%bb%a3c-bi%e1%ba%bft-d%e1%ba%bfn-cu%e1%bb%99c-d%e1%bb%9di-va-nh%e1%bb%afng-nam-tu-day-lao-ly-c%e1%bb%a7a-k/</link>
		<comments>http://www.vietthuc.org/2012/01/31/cau-chuy%e1%bb%87n-m%e1%bb%99t-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tu-b%e1%ba%a5t-khu%e1%ba%a5t-it-d%c6%b0%e1%bb%a3c-bi%e1%ba%bft-d%e1%ba%bfn-cu%e1%bb%99c-d%e1%bb%9di-va-nh%e1%bb%afng-nam-tu-day-lao-ly-c%e1%bb%a7a-k/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 Jan 2012 05:01:19 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Quynh Tram</dc:creator>
				<category><![CDATA[CHÍNH TRỊ-PHÁP LUẬT-KINH TẾ-XÃ HỘI]]></category>
		<category><![CDATA[THỜI LUẬN]]></category>
		<category><![CDATA[Người Tù Bất Khuất Ít Được Biết Đến]]></category>
		<category><![CDATA[Tù nhân chính trị Trương Minh Nguyệt]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://www.vietthuc.org/?p=34864</guid>
		<description><![CDATA[
Tù nhân chính trị Trương Minh Nguyệt 
Kính thưa quý vị,

Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,
Trong những ngày qua, công luận trong và ngoài nước sục sôi với với ...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: small; color: #008080;"><strong><img style="vertical-align: middle;" src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2012/01/VTT-JAN-28-12.-truongminhnguyet-content1.jpg" alt="" width="260" height="342" /><br />
Tù nhân chính trị Trương Minh Nguyệt</strong></span><em> </em></p>
<p style="text-align: justify;"><em style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"></em><strong><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Kính thưa quý vị,</span></strong></p>
<div>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trong những ngày qua, công luận trong và ngoài nước sục sôi với với sự kiện  nhà cầm quyền cộng sản Việt nam tại Hải Phòng cướp đất ruộng, phá nhà  cửa và bắt giam tra tấn, nhục hình người nông dân nghèo, lương thiện  theo kiểu đấu tố địa chủ trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc từ năm 1949 đến 1957, đối với người anh hùng nông dân chinh phục lời nguyền của  biển cả Đoàn Văn Vươn, dẫn đến cảnh tan cửa nát nhà, gia tài sản nghiệp  phút chốc trở thành của riêng tây của bọn cường hào đỏ ở Tiên Lãng, Hải  Phòng. Người nông dân trí thức Đoàn Văn Vươn cùng nhiều người thân trong họ tộc thì lụy vào vòng lao lý.<br />
</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Người dân trong và ngoài nước nghe thấy sự việc, ai cũng vô cùng căm phẫn bè lủ cường hào đỏ trước hành vi lấy  thịt đè người, và tất nhiên cũng vô cùng thương cảm cho những người nông dân họ Đoàn, ở Tiên Lãng, Hải Phòng này, một câu chuyện tương tự, cũng  từng xãy ra ở miền Nam sau ngày Vong Quốc Hận 30 tháng 4 năm 1975, cũng  với một người nông dân trí thức, ở Sài gòn, cũng bất khuất chống lại bạo quyền, cũng bị cướp đất ruộng và cũng bị lụy vòng lao lý của bọn cường  quyền đỏ 3 lần với hơn 20 năm tù ngục mà ít  được người đời biết đến.  Nhân ngày đón tết cổ truyền Nhâm Thìn 2012, cái tết tủi nhục lần thứ 37  của nhân dân Miền Nam, Phóng viên Quỳnh Trâm của PHONG TRÀO PHỤ NỮ VIỆT  NAM HÀNH ĐỘNG CỨU NƯỚC đã gặp gỡ người nông dân trí thức, người cựu tù  chính trị TRƯƠNG MINH NGUYỆT và thực hiện cuộc phỏng vấn sau đây, chúng  tôi xin gởi đến quý vị, quý thân hữu quý chiến hữu, cùng quý chiến hữu  toàn bộ cuộc phỏng vấn này, để xin tỏ lòng kính ngưỡng đối với người tù  bất khuất này, và cũng xin ghi thêm một tội ác của Hồ Chí Minh và Cộng  Sản Việt Nam đối với toàn dân tộc Việt.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Phóng Viên PTPNVNHDCN</strong>: Kính chào chú Trương Minh Nguyệt, thưa chú, nhân dịp ghé thăm và chúc tết chú, lần này, cháu xin thực hiện một cuộc phỏng vấn bỏ túi, về cuộc đời, về công cuộc đấu tranh chống bạo quyền cộng sản cũng như về những năm tháng tù đày mà chú phải trải qua, để người Việt trong và ngoài nước sẽ không  quên được tội ác của cộng sản bao giờ. Trước hết, xin chú sơ lược về nhân thân.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Cựu Tù Chính Trị, Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt</strong>: Dạ, cảm ơn cô Quỳnh Trâm đã đến thăm hỏi và chúc tết. Thưa quý vị, tôi  là Trương Minh Nguyệt, nguyên là kỹ sư canh nông, sinh năm 1946 tại Phú  Lâm, Sàigòn, năm 1970 theo lệnh tổng động viên, tôi nhập ngũ và tham gia khóa huấn luyện sỹ quan trừ bị tại Trường Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Đức, khóa  4/70, ra trường với cấp bậc Chuẩn Úy, số quân 66/155267. Sau 2 năm tùng  sự trong quân ngũ, tôi được thăng cấp Thiếu úy vào tháng 9 năm 1972.  Cùng năm đó tôi được biệt phái về làm Hiệu Trưởng Trường Trung Học Nông  Lâm Súc Tân Hiệp, Hóc Môn cho đến ngày Miền Nam bị rơi vào tay cộng sản  30 tháng 4 năm 1975.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Phóng Viên PTPNVNHDCN</strong>: Dạ, thưa chú vậy chú bị bắt giam trong trường hợp nào và tổng cộng, chú đã phải trải qua bao nhiêu năm trong các nhà tù của cộng sản ạ?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Cựu Tù Chính Trị, Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt</strong>: Dạ, vâng thưa cô, thưa quý vị, do bọn năm vùng đã biết rằng tôi là sỹ quan biệt phái, nên không lâu sau khi cưỡng chiếm được thủ đô Sàigòn, chính quyền thành phố lúc đó đã gọi tôi ra trình diện và đưa đi cải tạo tại trại Cải tạo Trảng Lớn, Tây Ninh, sau 6 tháng, tôi cùng nhiều anh em sỹ quân QLVNCH tiếp tục bị đưa ra lao cải tại Phú Quốc, thời gian đó nhiều anh em sỹ quan chúng tôi đã chết rất oan nghiệt do đói khát, bệnh tật và một số khác chết do bị rắn độc cắn, cuối cùng chúng tôi bị giải về trại cải tạo Long Giao Long Khánh, trước khi được phóng thích sau thời gian 30 tháng lao cải.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><a href="http://www.hennhausaigon2015.com/wp-content/uploads/2012/01/truongminhnguyet2.jpg"><img class="aligncenter" title="truongminhnguyet2" src="http://www.hennhausaigon2015.com/wp-content/uploads/2012/01/truongminhnguyet2.jpg" alt="" width="456" height="372" /></a></span><strong style="color: #008080; font-size: small; text-align: center;"><span style="font-family: verdana, geneva;">Ngôi nhà của Cựu Tù chính trị, Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt<br />
sau khi ông Nguyệt đi tù lần thứ 3</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Phóng Viên PTPNVNHDCN</strong>: Dạ, thưa chú sau khi được phóng thích, chú có được trở lại làm việc ở Trường Nông Lâm Súc hay không, và lý do nào mà chú bị bắt đi cải tạo lần thứ hai và bị bắt vào năm nào, thưa chú?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Cựu Tù Chính Trị, Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt</strong>: Dạ, vâng thưa cô, thực ra sau khi mất nước cũng có một số anh em sỹ quan biệt phái chúng tôi được lưu dung, nhưng số đó ít lắm, chỉ có những người có thân nhân đi làm “cách mạng” mới được lưu dung thôi. Tôi bị quy vào thành phần địa chủ, và thời gian cải tạo thì tôi bị liệt vào nhóm “không bao giờ thuộc bài” thì đời nào mà chúng nó lưu dụng chúng tôi, vã lại, là một cựu sỹ quan của QLVNCH, dù với chút tư cách ít ỏi thôi, cũng chẵng ai chịu khom lưng, cúi đầu làm khuyễn mã cho cộng sản. Vì vậy, sau khi được phóng thích, tôi lại tham gia một tổ chức Phục quốc, với hoài bão lấy lại Miền nam từ tay những tên cướp nước. Lúc đó tinh thần thì ai cũng cao lắm, kể cả những thanh niên trước đó từng trốn quân dịch hay những người từng chạy chọt để được hoãn dịch vì lý do gia cảnh, cũng tham gia rất hăng say, có lẽ lúc đó ai cũng thấy rõ được họa cộng sản, nhưng rất tiếc là lực bất tòng tâm, đành ngậm ngùi cho đến nay. Cùng nhiều anh em trong tổ chức, tôi bị bắt vào cuối năm 1978, ấy là năm Mậu Ngọ mà các chú nón cối gọi là năm “QUÝ NGỌ” tức là trong Nam, ngoài trung gì cũng “CÓ NGỤY”. Tôi cùng các chiến hữu bị kết tội “âm mưu lật đổ chánh quyền” và bị kêu án 15 năm và bị giam giữ nhiều tháng ở số 4 Phan Đăng Lưu, rồi sang Chí Hòa và sau khi ra tòa xong thì bị đưa ra Trại Trừng Giới A20 Xuân Phước. Mà theo tôi nghĩ rằng những ai đã từng bị tù đày lao lý, bị đọa đày qua những nơi này mới thấu hiểu hết tội ác của cộng sản, chứ bình thường ai cũng nói “ác như cộng sản” những nếu như chưa bị nếm trải tù đày của chúng thì cũng chưa cảm nhận được cái độc ác cái bạo tàn của cộng sản thực tế ra nó như thế nào đâu. Trong thời gian ở trại tù A20 Xuân Phước, tôi được chung sống với nhiều Tôn Trưởng là sỹ quan cao cấp của QLVNCH, cùng nhiều chức sắc tôn giáo cũng đang chịu án tù tại đây, mà nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại trên mãnh đất nghèo khó đó trong cảnh tù đày đói khát nghiệt ngã lắm. Lúc đó trong biệt giam, nhiều anh em sỹ quan, nhiều linh mục, nhiều sư sãi bị đánh đập, bị tra tấn đến chết diễn ra từng ngày, nên cùng với thượng tọa Thích Thiện Minh, chúng tôi thành lập Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo nhằm có thể tương tế cho anh anh em sau khi ra tù, và tôi được Thầy Thiện Minh, lúc đó là Hội Trưởng, bổ nhiệm cho tôi chức Hội Phó. Tôi mãn hạn tù vào đầu năm 1993, trở về địa phương với hai “bàn tay rất trắng”: nhà cửa bị tịch biên, 10 hecta đất bị “cách mạng trưng thu” để thành lập nông trường Phạm Văn Hai, vợ tôi bị một  “cán bộ cách mạng trưng dụng” trên tinh thần “nhà nó ta ở, vợ nó lấy, con nó ta sai”. Trong cảnh không nhà không cửa, không vợ con, tôi dành thời gian để chia sẻ với những bạn tù đồng cảnh ngộ khác. Trên cùng chuyến xe đi hành hương về Chùa Bà ở núi Sam, Châu Đốc, tôi đươc gặp nhà tôi bây giờ đây là bà Nguyên Thị Dễ, cảm thương hoàn cảnh tù đày lao lý rồi vô gia cư của tôi cô ấy đã cùng tôi gá nghĩa vợ chồng, và từ đó đến nay tôi có được một chốn để đi về, và nhờ vậy mà hoạt động của tôi trong Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam cũng được hiệu quả hơn.</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong></strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Phóng Viên PTPNVNHDCN</strong>: Dạ, thưa chú, vậy lần thứ 3 chú bị bắt đi tù là vào ngày tháng năm nào, và chú bị kết tội gì, thưa chú?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Cựu Tù Chính Trị, Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt</strong>: Dạ, thưa cô Quỳnh Trâm, Vì hoạt động trong hội Ái Hữu vì thường xuyên liên lạc thăm hỏi các anh em cựu tù mà tôi bị bắt lại vào ngày 04 tháng 6 năm 2007, với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ để tuyên truyền chống lại “nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam” tôi bị đưa ra tòa và kết án 4 năm tù Z30 Xuân Lộc Đồng Nai, do tuổi cao sức yếu lại phải lao cải nhọc nhằn, tôi lâm bệnh thập tử nhất sinh, nên tôi được đưa về quê nhà để chờ chết vào ngày 30 tháng 8 năm 2010. Cũng may mắn được ơn trên thương xót, được bà vợ già hết lòng thương yêu chăm sóc, tôi dần dần được hồi phục cho đến nay. Cuộc sống hiện như cô thấy đó, rất đơn sơ và đạm bạc, nhưng cũng có cơ hội đi lại thăm viếng các anh em bạn cựu tù thì trong tuổi xế chiều già bạc này tôi cũng chẵng dám mong gì.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><a href="http://www.hennhausaigon2015.com/wp-content/uploads/2012/01/truongminhnguyet5-content.jpg"><img class="aligncenter" title="truongminhnguyet5-content" src="http://www.hennhausaigon2015.com/wp-content/uploads/2012/01/truongminhnguyet5-content.jpg" alt="" width="419" height="391" /></a></span><strong style="color: #008080; font-family: verdana, geneva; font-size: small; text-align: center;">Ngôi nhà của Cựu Tù chính trị, Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt đã được trùng tu<br />
sau ngày ông Nguyệt ra tù lần 3 năm 2010</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Phóng Viên PTPNVNHDCN</strong>: Dạ, thưa chú, cháu xin hỏi một câu hỏi hơi tế nhị là trong thời gian  vừa qua, có một số các chú các anh chị cựu tù chính trị và tôn giáo đã đào thoát khỏi nhà tù lớn Việt nam sang tỵ nạn chính trị tại Cambodge và Thái lan, một số không ít trong đó đã được tái định cư ở một đệ tam  quốc gia nào đó rồi. Sau ngần ấy năm tù đày lao lý, chú có dự định đi  tìm tự do không, thưa chú?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Cựu Tù Chính Trị, Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt</strong>: Dạ, thưa cô, tôi xin nói KHÔNG với việc bỏ cuộc chơi này. Thứ nhất là  lão lai, tài tận rồi, tôi biết dẫu có được đi đến Pháp đến Mỹ rồi tôi  cũng sẽ không còn sống được bao lâu nữa, chưa nói đến chuyện là với tuổi của tôi đi qua đó để làm gì. Liệu có tự làm việc được để đủ nuôi sống  bản thân không chứ nói chi đến việc lo cho đại cuộc. Thứ hai nữa là, như cô thấy đó, ở Việt nam hiện nay cũng còn khá nhiều anh chị em cựu tù  cũng đang sống âm thầm trong khó nghèo trong cơ lại, không tuổi không  tên như tôi, chứ có phải riêng mình tôi đâu, chắc cô có biết những cựu  tù không tên tuổi khác như anh Phạm Văn Quyết, anh tử tù Trần Nam  Phương, Giáo Sư Nguyễn Mạnh Bảo, Cựu Tù, Cựu Trung Úy Thiết Giáp Trần  Bửu Châu, Trần Văn Đức… và còn nhiều, nhiều nữa những người cựu tù chưa  ai từng nhắc đến tên tuổi, nhưng họ vẫn âm thầm sống, âm thầm đấu tranh  cho một nước Việt nam tự do, dẫu biết rằng chúng tôi sức đã tàn lực đã  cạn, nhưng trong chiều hướng này thà cứ cùng nhau thắp lên những ngọn  nến leo lét, còn hơn là để vậy mà nguyền rủa bóng tối, phải không thưa  cô?</span></p>
<div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Phóng Viên PTPNVNHDCN</strong>: Dạ, vâng thưa chú, nhân ngày cuối năm Tân Mão, đồng bào cả nước đang  chuẩn bị đón năm mới Nhâm Thìn 2012, cũng là cái tết thứ 37 đồng bào  miền Nam phải chịu ách thống trị bạo tàn của CSVN, với tinh thần “ôn cố tri tân” chú cảm nhận thế nào về sự sụp đổ hoàn toàn và nhanh chóng của  Việt Nam Cộng Hòa, cũng như sự cưỡng chiếm miền Nam một cách quá dễ dàng của cộng quân Bắc Việt. Có phải lúc đó cộng sản quá mạnh còn Việt Nam  Cộng Hòa thì quá suy yếu do thiếu sự viện trợ của Đồng Minh không, Thưa  chú?</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Cựu Tù Chính Trị, Kỹ Sư Trương Minh Nguyệt</strong>: Dạ, thưa cô, đây là một vấn đề lớn, mang tính chiến lược toàn cầu, nên  không thể trả lời cô trong phạm vị một buổi gặp gỡ ngắn ngũi như thế này, hơn nữa cổ nhân há chẵng đã nói rằng “Thắng làm vua, thua làm giặc” đó sao? Vã lại đây không phải là lúc để ngồi luận anh hùng. Tôi chỉ xin nói với cô ngắn gọn như thế này, nếu không hiểu được ngay, cô cứ tiếp  tục mà suy gẫm rồi sẽ có ngày cô hiểu ra, đó là:</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">“Thời lai Đồ điếu thành công dị</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Vận khứ, anh hùng ẩm hận đa”</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Và nếu có thời gian xin cô tìm đọc bài thơ CẢM HOÀI của Đặng Dung, ắt cô sẽ dễ chiêm nghiệm về thế cuộc hơn:</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Cảm hoài</strong></span></p>
<p style="padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Thế sự du du nại lão hà</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Vô cùng thiên địa nhập hàm ca</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Thời lai đồ điếu thành công dị</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Vận khứ anh hùng ẩm hận đa</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trí chúa hữu hoài phù địa trục</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Quốc thù vị báo, đầu tiên bạch</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma</span></p>
<p style="padding-left: 60px;"><strong><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Dịch thơ:</span></strong></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>1.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Việc đời bối rối tuổi già vay, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Trời đất vô cùng một cuộc say.</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Bần tiện gặp thời lên cũng dễ, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Vai khiêng trái đất mong phò chúa, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Giáp gột sông trời khó vạch mây.</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Thù trả chưa xong đầu đã bạc, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Gươm mài bóng Nguyệt biết bao rày.</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>2.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Việc đời man mác, tuổi già thôi! </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Gặp gỡ thời cơ may những kẻ, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tan tành sự thế luống cay ai! </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Phò vua bụng những mong xoay đất, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Gột giáp sông kia khó vạch trời. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đầu bạc giang san thù chửa trả, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>3.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tuổi về già, phải thời bối rối, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Cả đất trời một hội mê say, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Gặp thời kẻ dở nên hay, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Anh hùng lỡ vận, đắng cay trăm phần. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Lòng cứu chúa muốn vần trái đất, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Gột giáp binh khôn dắt sông trời. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Thù còn đầu đã bạc rồi, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Mấy phen dưới Nguyệt chuốt mài lưỡi gươm.</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>4.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Thế sự ngổn ngang tuổi luống rồi, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đất trời thu lại hát say thôi, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Anh hùng nuốt đắng khi tàn vận, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đồ điếu nên công lúc gặp thời. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Giúp chúa rắp tâm nâng trái đất, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Rửa binh khôn lối kéo sông trời. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Quốc thù chưa báo đầu mau bạc, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Bao độ gươm mài bóng nguyệt soi.</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>5.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Việc thế lôi thôi tuổi tác này, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Mênh mông trời đất hát và say, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Gặp thời đồ điếu thừa nên việc, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Lỡ vận anh hùng luống nuốt caỵ </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Giúp chúa những lăm giằng cốt đất, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Rửa dòng không thể vén sông mây.</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Quốc thù chưa trả già sao vội, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Dưới Nguyệt mài gươm đã bấy chầy.</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>6.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tuổi già lận đận nỗi tình đời, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Vô tận vần xoay khoảng đất trời, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Ti tiện gặp thời lên chẳng khó, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Anh hùng lỡ bước hận nhiều thôi. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Vác non phò chúa trên vai nặng, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Gột giáp qua mây mặt nước trôi </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Thù nước chưa xong đầu sớm bạc, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Dưới trăng mài kiếm mấy thu rồi.</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>7.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Thế cuộc mênh mang tuổi sớm già, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đất trời thu lại chỉ say ca, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Gặp thời đồ điếu thành công dễ </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Lỡ vận anh hùng nuốt hận đa. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Giúp chúa những mong nâng địa trục, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Rửa binh không lối kéo thiên hà. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Quốc thù chưa trả đầu mau bạc, </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Bao độ mài gươm dưới nguyệt tà.</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>8.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Việc lớn chưa xong tuổi đã già. </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Đất trời thu gọn, tiệc ngâm nga </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Gặp thời, bần tiện thành công dễ </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Lỡ vận, anh hùng dạ xót xa </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Giúp chúa những mong xoay trục đất </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Rửa dòng không lối kéo thiên hà </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Quốc thù chưa trả đầu đã bạc </span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Mấy độ mài gươm bóng nguyệt tà.</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>9.</strong></span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Việc dở dang, há vội già!</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Mênh mang trời đất ta bà khúc say.</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Ðược thời, hèn mọn có ngày,</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Vận thua, hào kiệt đắng cay nỗi lòng.</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Những toan giúp chúa trùng hưng,</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Hận sao chẳng sức níu sông Ngân Hà .</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Hai vai nợ nước thù nhà,</span><br />
<span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Tóc sương mấy độ trăng tà mài gươm!</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><strong>Phóng Viên PTPNVNHDCN</strong>: Dạ, thưa chú, xin thay mặt nhóm phóng viên PHONG TRÀO PHỤ NỮ VIỆT NAM HÀNH ĐỘNG CỨU NƯỚC ở Quốc Nội, cháu xin chân thành cảm ơn chú đã dành thời giờ cho cuộc phỏng vấn này. Xin kính chúc chú một năm mới Nhâm Thìn 2012 luôn mạnh khỏe và may mắn trong mọi công việc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;">Kính thưa quý vị, trước khi chia tay với người nông dân trí thức, cựu tù chính trị Trương Minh Nguyệt, chúng tôi đã kịp ghi lại hình ảnh ngôi nhà của ông, một “mái ấm gia đình” của một nông dân trí thức trong thiên đường XHCN Việt Nam.</span></p>
<p style="text-align: justify; padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: small;"><strong><span style="font-size: medium;"><strong>Mọi liên hệ thăm hỏi xin quý vị liên hệ về bà NGUYỄN THỊ DỄ,<br />
</strong></span></strong><span style="font-size: medium;">số 311 &#8211; Ấp 4 A</span><span style="font-size: medium;"><br />
</span></span><span style="font-size: medium;">Xã Tân Trạch, Huyện Cần Đước, Tỉnh Long An –</span></p>
<div style="padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;">Điện Thoại Chú Trương Minh Nguyệt:</span></div>
<div style="padding-left: 60px;"><span style="font-family: verdana,geneva; font-size: medium;"><a href="tel:%28%2B84%29%201204595413" target="_blank">(+84) 1204595413</a> .<br />
Email: <a rel="nofollow" href="http://us.mc1143.mail.yahoo.com/mc/compose?to=truongminhnguyet66155267@gmail.com" target="_blank">truongminhnguyet66155267@gmail.com</a></span></div>
<div><span style="font-size: medium;"><strong><strong><strong></strong></strong></strong></span> </div>
<div>
<div><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium; text-align: justify;">Ngày 21 tháng 01 năm 2012 tức ngày 28 tháng Chạp âm lịch năm Tân Mão.</span></div>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium;"><span style="color: #000080; font-size: large;"><strong>Quỳnh Trâm</strong></span><br />
<a href="http://www.hennhausaigon2015.com/D_1-2_2-44_10-993_12-1/">Phong Trào Phụ Nữ Việt Nam Hành Động Cứu Nước</a></span><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: small;"><br />
</span></p>
</div>
<p><span style="font-family: verdana, geneva; font-size: medium; text-align: justify;"><span style="font-size: large;"><strong><a href="http://www.vietthuc.org">www.vietthuc.org</a></strong></span><br />
<img src="http://www.vietthuc.org/wp-content/uploads/2011/09/VTT-71-SEP-24-VTO-logo.png" alt="" width="150" height="21" /></span></p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://www.vietthuc.org/2012/01/31/cau-chuy%e1%bb%87n-m%e1%bb%99t-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tu-b%e1%ba%a5t-khu%e1%ba%a5t-it-d%c6%b0%e1%bb%a3c-bi%e1%ba%bft-d%e1%ba%bfn-cu%e1%bb%99c-d%e1%bb%9di-va-nh%e1%bb%afng-nam-tu-day-lao-ly-c%e1%bb%a7a-k/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

